Lục Châu Học
Nguyễn Văn Trung
PHỤ LỤC
TIỂU SỬ TÁC GIẢ VÀ ĐỜI
SỐNG VIẾT VĂN, VIẾT BÁO,
T̀NH H̀NH ẤN LOÁT - PHÁT HÀNH
T́m biết tiểu sử tác giả c̣n khó
hơn t́m biết tác phẩm v́ dù sao tác phẩm cũng
đă có đó, nhưng tiểu sử đời sống
viết văn viết báo của các tác giả, thật khó
biết được v́ chưa có hoặc có rất ít tài
liệu liên hệ. Chúng tôi nghĩ rằng miền Nam
sống văn chương nhiều hơn làm văn học,
nghĩa là chú trọng thưởng thức hưởng
thụ việc đọc tác phẩm hơn là suy nghĩ
về văn chương một cách phê phán có hệ thống
tạo ra một sinh hoạt song song với sinh hoạt sáng
tác và thưởng thức văn chương, sinh hoạt
nghiên cứu lư luận, phê b́nh, văn học và văn
học sử... Sinh hoạt này có thể trở thành sinh
hoạt trí thức của một giới, thuộc một
thế giới riêng trên sách báo và trong giáo dục, sư
phạm. Chính v́ thế mà có trường hợp một tác
phẩm văn chương ai cũng biết chỉ v́
đă được đọc trong sách báo văn học,
hoặc đă phải học trong giờ văn học
sử ở trường, mà có thể chưa hề
đọc chính tác phẩm mặc dầu tác phẩm và tác
giả không có ǵ đặc sắc... Trái lại có
trường hợp tác phẩm thật nổi tiếng
một thời, được rất nhiều
người thuộc các giới đọc, nhưng bây
giờ lại chẳng ai biết tới, bị bỏ
quên, bỏ qua chỉ v́ tác phẩm, tác giả đó không
được nói đến trong sinh hoạt văn
học. Đây là trường hợp của nhiều tác
phẩm, tác giả thời kỳ cuối thế kỷ XIX
và đầu thế kỷ XX ở miền Nam.
Giới thiệu tác phẩm th́ cũng
phải giới thiệu tác giả và điều kiện
viết văn viết báo. Đi t́m con cháu tác giả, th́
hoặc không biết ở đâu, hoặc đă đi xa,
hoặc c̣n một, hai người nhưng chẳng
biết ǵ về nội, ngoại của ḿnh. Chúng tôi t́m ra
một cháu nội Trương Duy Toản, chỉ c̣n
giữ một tấm h́nh chụp ông nội bên Tây hồi
1913 và một câu đối của ông nội viết, ngoài
ra không c̣n ǵ, cũng không biết ǵ về đời
sống của ông nội. Chỉ c̣n cách t́m đọc
lại các báo cũ, may ra t́m được chút ít tiểu
sử, nhưng những bài phê b́nh tác phẩm th́ thật
hiếm, kể như không có. T́m về phía hồ sơ hành
chánh của Pháp, có thể nắm chắc được
chút ít về lư lịch của một vài người là viên
chức (chẳng hạn trong cuốn Souveraibset notabilites
d'Indochine, editins du Gouv.gén.de l'Indochine, Ideo. Hanoi 1943.
Trong tập đầu này, chúng tôi giới
thiệu một số tài liệu kiếm ra
được để tham khảo, hy vọng sau này có
thêm nhiều tài liệu khác mới dám nghĩ đến làm
việc kiểm tra, chú thích.
TRẦN CHÁNH CHIẾU
VỊ Đốc PHỦ SỨ CÓ QUỐC
TỊCH PHÁP NHƯNG KHÔNG BÁN NƯỚC, BÁN DÂN (NGUYỄN BÁ
THẾ - ĐUỐC NHÀ NAM - 20-8-1971).
Đă từng có hàng quan lại Nam Triều
bỏ chức lo cứu nước, điển h́nh là
cụ Nguyễn Thượng Hiền, đă từng có thành
phần Hội đồng dân cư do thực dân Pháp
tổ chức mà không xu phụ kẻ cướp
nước, đứng hẳn về phía nhân dân chống
lại họ quyết liệt để đánh
đuổi họ đi. Điển h́nh là cụ Nguyễn
Thần Hiến. Đến như có vị Tri phủ mang
quốc tịch Pháp hẳn hoi tỏ ḷng yêu nước đến
cao độ có ai dám tin chăng? Thế mà lịch sử
Việt Nam trong giai đoạn Duy Tân cứu quốc đă
có một người như thế đấy. Xin thưa:
Cụ Trần Chánh Chiếu có tên Pháp là Gilbert tục
gọi Gilbert Chiếu hay Đốc Phủ Chiếu
hoặc Phủ Chiếu.
Cụ Nguyễn Thượng Hiền bỏ
chức Đốc học dấn thân cứu quốc không
lạ. Cụ Nguyễn Thần Hiến không v́ cái chức
Hội Đồng bù nh́n mà bán thân cho quỉ rồi hy sinh
cho Tổ Quốc đến chết rục trong tù đáng
kính phục biết bao mà không lạ. Nhưng
được thực dân Pháp ưu đăi mà không
đầu phục chúng, có quốc tịch Pháp mà không vong
bản, nghe tiếng gọi dân mà đứng lên đáp
lời sông núi, trường kỳ tranh đấu, thật
sự hy sinh - chuyện cụ Trần Chánh Chiếu vừa
là chuyện lạ, lại là chuyện đáng cảm
động, cảm phục, nhất là trong thời
buổi nhá nhem, biết bao tṛ mập mờ đánh lận
con đen đă diễn, tiểu truyện Cụ Trần
Chánh Chiếu càng đáng được đề cao,
để soi đường cho những ai c̣n lạc
lối, để thức tỉnh hàng trí thức gia nô.
Trần Chánh Chiếu hiệu Quang Huy lại có các bút
hiệu khác là Kỳ Lân Các, Mộng Trần, Nhựt
Thăng.
Ông xuất thân là sinh viên Collège d'adran, lúc ở
Rạch Giá, nhà có của nên được đưa lên Sài
G̣n học bậc Trung học. Ra trường, ông
được bổ dạy ở trường làng xă
Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá) ít lâu ông nghỉ dạy. Lại
được các thân hào nhân sĩ trong tỉnh cử làm xă
trưởng. Lănh chức xă trưởng nhưng ông là
một xă trưởng đặc biệt nhất không
một xă trưởng nào sánh được. V́ ông giỏi
Pháp văn, bặt thiệp, quảng giao, cư xử theo
đường lối tân học nên uy tín của ông
khiến mọi người phần kính tể. Ông làm xă
trưởng trong một tỉnh lẻ miền Tây mà ông có
cung cách như thị xă trưởng ở đô thành. Ông
mang dây tam tài như xă tay Sài G̣n, xài con dấu tṛn chứ
không dùng con dấu h́nh quả trám như thông lệ.
Ông khinh bỉ họ Trần ra mặt,
gặp Trần Bá Thọ ông gọi mỉa mai là
"Phước Tân" (Phước Tân có nghĩa là cháu
ông Phước con ông Lộc, nhưng lại có nghĩa theo
diện số đề 36 hoặc 40 th́ là "con chó").
Lại một lần khác, bút chiến với
các cây bút nặc mùi bợ của báo "Nông cổ mín
đàm) của ông P.Canavaggio làm chủ nhiệm, Lương
Khắc Ninh làm chủ bút, ông châm biếm đám
người liếm giày thực dân toan tâng công với
chủ, bằng 2 câu lục bát:
Nực cười rắn bọ nuốt voi
Cóc kia lấp lững lại đèo trèo thang.
Bởi thế ông bị bọn gia nô căm
hận ông thấu xương tủy. Trả thù ông, gă
Trần Bá Thọ méc với ông Outrey quyền Thống
Đốc Nam Kỳ rằng Gilbert Chiếu làm phản.
Rồi gă lại nhờ báo Cochinchine libérale của Jules
Adrien Marx tố cáo việc "Minh Tân Công Nghệ" là
cơ sở kinh tài của nhóm Phủ Chiếu, là trụ
sở mật của hội kín mưu đồ đánh
đuổi Pháp.
Dựa vào lời thóc mách của tên
điểm chỉ của Đốc Phủ Thọ
ấy, thực dân bắt giam Trần Chánh Chiếu vào
khoảng tháng Avril 1909, đồng thời khám xét sổ
sách những cơ sở do ông đứng tên thành lập.
Nhưng thực dân không làm ǵ được
ông, v́ ông đă tổ chức rất khéo không để
lộ một h́nh thức ǵ để thực dân có cớ
mà đàn áp. Lại nữa ông là "dân Tây" thạo
luật nên không bị giam lâu ngày, 21-4-1909 ông được
trả tự do.
Được phóng thích, ông thừa biết
thực dân đă gh́m ông rồi, từ đó không hoạt
động công khai, nhưng ông không đầu hàng, không bó
tay trước cảnh ngộ khó khăn vẫn âm thầm
tiếp tay với các đồng chí đẩy mạnh
mọi công tác cần thiết. Để thực dân
bớt ḍm ngó, ông mở một hiệu buôn khác mang bảng
hiệu là "Quang Huy" (theo bút hiệu của ông) ở
số 54 đường Viénot Saigon. Ông lại vờ chuyên
tâm vào việc soạn sách, xuất bản sách. Chính ông
đă có sáng kiến in một tập sách nhan đề là
"Gia phổ" (có gạch thêm tiếng Pháp là Lioret de
Famille) các trang đầu sách có một trang in h́nh gốc đa
lớn rườm rà cành lá để gia chủ
điền tên họ những người trong thân tộc
từ gốc cho đến cành lá theo như thể
thức tông chi. Lại dành thêm 2 trang để gia chủ
ghi thêm những điều cần thiết. Phần sau sách
th́ tŕnh bày từng bài ngắn về công dân giáo dục và
những điều phổ thông thường thức.
Ông lại gom những bài báo của ông và các
bạn đồng chí xuất bản thành từng tập
sách mỏng nhan là "Minh Tân tiểu thuyết" (hai
chữ tiểu thuyết của ông dùng có nghĩa như bài
xă luận trong sách báo hiện nay chứ không phải như
danh từ tiểu thuyết bây giờ). Từ năm 1915 -
ông cho xb bộ sách "Văn ngôn tạp giải"
lần lượt in từng tập mỏng bán giá 0đ50,
trọn bộ 20 tập bán 5đ, có đóng b́a bán 6đ.
Tài cao nhân cách chẳng tầm thường,
ông được viên Chánh chủ Tỉnh Rạch Giá xin cho
ông theo quốc tịch Pháp, rồi ít lâu được
thăng thưởng hàm đốc phủ. Như ai th́
đă tha hồ lên mặt, muốn ǵ mà chẳng
được, chỉ cần quên mất hai chữ liêm
sĩ đi quên luôn cả giống ṇi th́ tha hồ nắm
quyền sanh sát trong tay. Nhưng Trần Chánh Chiếu nào phải
con người vong bản nên bao nhiêu sự mua chuộc
của thực dân không đánh đổ được tâm
hồn yêu nước của ông. Từ cuối năm 1906
ông đă bắt liên lạc được với các nhà ái
quốc trong Nam như Nguyễn Thần Hiền, Nguyễn
Quang Diệu, Nguyễn An Khương, hiểu rơ về
phong trào Đông Du đang diễn tiến ngoài Trung và lan
rộng vào Nam. Ông cùng các đồng chí hưởng ứng
tham gia hoạt động rất can đảm. Cụ
thể ông cho người con trai là Jul Tiết - sung vào hàng
thanh niên xuất dương du học. Tích cực phục
vụ Đảng Cách mạng cứu quốc do Cụ Phan
Bội Châu lănh đạo tại Hương Cảng. Chính
cụ cũng có sang Hương Cảng diện kiến
cụ Sào Nam và chấp nhận cho Jul Tiết sang hầu
cận Kỳ ngoại hầu Cường Để
tại Đông Kinh. Hơn nữa ông c̣n lănh nhiệm vụ
phân phát tuyên truyền phẩm ở ngoại quốc gửi
về nhà các bản sách Kỷ niệm lục, Hải
ngoại huyết thư, Lưu cầu huyết lệ
thư, v.v...
Nhất là khoảng giữa năm 1907 sau khi tiếp
xúc với cụ Mộng Vũ Băo Chi Nhuận lănh sứ
mạng của cụ Cường Để từ
Nhật về tuyên truyền trong Nam. Trần Chánh Chiếu
càng sát cánh với các đồng chí hoạt động
mạnh hơn lên. Bấy giờ ông đă rời Rạch
Giá lên Sài G̣n để tiện xúc tiến công cuộc
dự định, vả lại ông cũng là một
Luật sư trong Ṭa án Sài G̣n.
Rập theo qui củ của các đồng chí
ngoài Trung Bắc mở hiệu buôn, lập một
trường học để đẩy mạnh phong trào
Đông Du của Duy Tân.
Cụ Nguyễn An Khương lập nên khách
sạn Chiêu Nam lầu tại Sài G̣n để kinh tài giúp quỹ
cách mạng vừa làm trụ sở mật đưa
rước thanh niên xuất dương du học. Cụ
Trần Chánh Chiếu cũng đứng ra tổ hợp
thành lập "Minh Tân công nghệ" với khẩu
hiệu "Động vị binh, tinh vị
thương" động th́ tất cả công nhân trong
nhóm Minh Tân sẽ là chiến sĩ đứng lên dưới
cờ nghĩa, Tịnh th́ im hơi giấu tiếng lo
việc kinh tài. Ông lại lập Minh Tân khách sạn, hăng xà
bông Can Can (con vịt), tiệm "Mộng Tiền Trà" ở
Sài G̣n và lập "Duy Tân lữ quán" ở Mỹ Tho.
Đồng thời ông hăng say viết sách,
viết báo, ông soạn quyển Hương Cảng nhân
vật, kể cuộc du lịch của ông sang Hương
Cảng, về Pháp văn, ông gởi bài trên báo Le Moniteur des
provinces, về Việt văn ông viết rất nhiều
trên tờ "Lục Tỉnh Tân Văn".
Nguyên tờ "LTTV" do người Pháp là
Pierre Jeantet làm chủ xuất bản từ ngày 2-11-1907. Ông
Jeantet đứng tên chủ nhiệm, nhưng thật
sự không ngó ngàng ǵ đến tờ báo, chỉ lo
việc quản lư kinh doanh, bộ biên tập sau đó ông
giao lại cho cụ Trần Chánh Chiếu điều
khiển. Nhân đó Trần Chánh Chiếu ngấm ngầm
dùng tờ LTTV làm cơ quan tuyên truyền chống Pháp và
khuyến khích nhân dân rất đắc lực. Ông viết
rất nhiều, những bài báo của ông toàn là bài chứa
chan tinh thần yêu nước. Ông đă biến cái lợi
khí của địch tờ LTTV của người Pháp làm
lợi khí của ḿnh để tuyên truyền chống
địch.
Ngày 17-10-1907 trên báo LTTV có bài "Lê Tài Vân"
của ông, kể chuyện một ông cha ác nghiệt
để gián tiếp chỉ trích sự tàn bạo của
chế độ thuộc địa, sự ngu xuẩn ác
độc của Nam Triều.
Số báo ngày 12-10-1907, ông có bài
"Thượng bất chánh, hạ tắc loạn"
thẳng thắn cảnh cáo nhà cầm quyền Pháp. Rồi
đến bài "Khi những nhân vật thượng
đẳng khởi nghĩa" bản sắc tranh
đấu của ông thêm biểu lộ rơ rệt.
Đặc biệt hơn là số báo ngày
13-1-1908, ông viết bài "Sự hổ tướng phù
trợ giữa đồng bào và bàn về nghĩa hổ
tương phù trợ", rồi ngày 23-1-1908 viết bài
"Dân tộc đoàn kết và thời dân", ông công khai
lên tiếng gọi dân và can đảm khen ngợi vụ
tàn sát đồn lính Pháp xảy ra tại Rạch Giá.
Thái độ của ông đă làm cho các nhà
đương cuộc Pháp khó chịu t́m cách ngăn
trở ông. Ông không nao núng ǵ vẫn cứ theo lương
tâm, theo lư tưởng mà hành động. Không nói công khai
được trên báo, th́ ông xoay ra hoạt động
ngầm. Khách sạn "Nam Trung" cũng do ông và các
đồng chí thành lập theo dụng đích của nó là
một diễn đàn và một ước hội. Một
Ủy Ban Cách mạng đă thành lập tại đây
một cách bí mật gồm có các nhân vật trong ngành công
chức hồi đó như; Nguyễn Hán Văn, thơ kư
ṭa bố Cần Thơ, Đặng Thúc Liêng, Thơ kư Ṭa Bố
Sa Đéc, xă đinh ở Vĩnh Long, cai tổng Vơ Văn
Thiện ở Mỹ Tho.
Ông có nhiệt tâm có chí hy sinh cao cả nên lôi cuốn
được mọi người mọi giới theo
về với ông chung sức lo đại cuộc
nước nhà. Thật ra th́ ông có quốc tịch Pháp, lúc
ban đầu ai cũng nghi ngại ông - giở tṛ
đối lập cuộc với chính quyền nếu tin
theo lời ông th́ chẳng khỏi mắc bẫy, nhưng
dần dần thấy rơ nhiệt tâm của ông, những
người có tâm huyết đều cảm động
không ngần ngại ǵ nữa sẵn sàng cùng ông dấn thân
trên đường báo quốc... Tánh ông rất ngay
thẳng thường mạnh dạn đả kích
những phường xu nịnh, bán nước buôn dân. Dù
là kẻ quyền thế đến đâu khi ông bất b́nh
ông vẫn nói thẳng không kiêng nể ǵ cả. Có lần
ông đến tiếp xúc với tri phủ Trần Bá
Thọ (con Tổng Đốc Trần Bá Lộc), ông khuyên
họ Trần nên chuộc lỗi lầm xưa bằng
cách hăy tán gia tài giúp đỡ cho các hợp đoàn cứu
quốc. Trần Bá Thọ cười lạt bảo ông:
Tri thần Tin bất tri bệ hạ (ư chỉ biết có
chính phủ Pháp, không biết nói tới vua ḿnh).
Dưới nhan sách "Văn ngôn tạp
giải" có gạch thêm hàng chữ Pháp "Recueil du
langage fleuri" in tại nhà in Moderne S.Montegut ở Sài G̣n,
ấy là bộ sách giải nghĩa các danh từ mới
trong mọi lănh vực sử địa khoa học chính
trị tông giáo. Dù ông rất khéo làm ra vẻ không quan tâm
đến chính trị nữa, ông vẫn bị liệt vào
hạng t́nh nghi luôn luôn thực dân cho người theo dơi
ông. Biết như thế một số đông thân hữu
dần dần tránh xa ông v́ sợ bị liên lụy. Chỉ
c̣n những bạn có gan ruột vẫn thường lui
tới với ông như: Huỳnh Sành Điền,
Đặng Thúc Liêng, Đốc Phủ Báu, Nguyễn An Khương,
Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Văn Sánh, Đỗ
Văn Y.
Vượt mọi chướng ngại
cụ Trần Chánh Chiếu vẫn thi gan với thực
dân trong sự chống đối, cụ vẫn âm thầm
hoạt động cho các tổ chức cách mạng.
Cụ hoàn toàn hy sinh thân mạng tài sản cho đại
cuộc nước nhà đến nỗi tiền bạc
hao hụt, nhà buôn bị khánh tận. Trong sóng gió cụ
vẫn hiên ngang đương đầu với sóng
dữ gió cuồng không sờn ḷng nản chí.
Đến năm 1917 cụ lại bị ṭa
quân sự ra lịnh bắt giam lần nữa, v́ nghi
cụ ủng hộ Phan Phát Sanh tức Phan Xích Long trong
vụ vơ trang quần chúng nổi loạn phá khám Sài G̣n.
Thật nguy cho cụ, nhưng vẫn tánh cang trường
có Pháp tịch có tài biện báo hùng biện chẳng bao lâu
cụ thoát khỏi nguy nan. Thực dân thả cụ ra
lần nữa và lần này canh chừng cụ gắt gao
hơn. Chúng cố t́nh khủng bố khiến cho không ai dám
gần cụ nữa để cô lập cụ. Cụ
luống than dài, thân xác dần dần suy yếu v́ bao
nỗi ưu tư tàn phá tỉa ṃn sức khỏe,
nhưng tinh thần cụ vẫn kiên cường, ư chí
vẫn kiên trung sắt đă. Bạn sinh tử với
cụ lúc bấy giờ chỉ c̣n Nguyễn Thành Úc người
tỉnh Long Xuyên là vẫn sát cánh với cụ. Đời
cụ, luôn luôn theo đúng phương châm mà cụ đă
đề ra trong mỗi bài báo cụ viết: V́ quốc
dân, với quốc dân, v́ Tổ quốc, với tổ
quốc".
Những lúc thất bại, cụ
thường than thở với các bạn đồng chí
"Có lẽ sau này rồi trời cũng giúp cho
nước ta độc lập chứ chẳng không".
Cho đến năm 1917, giữa lúc cụ
đang bịnh, có cuộc đầu phiếu bầu
cử thân sĩ Nam kỳ. Hai người Pháp tranh nhau là
luật sư Monin và quyền thống đốc Nam kỳ
Outrey. Cụ Trần Chánh Chiếu có Pháp tịch
đứng về phe ủng hộ Monin. Cụ
gượng bịnh ra xe đi bỏ thăm cho Monin, có
Nguyễn Thành Úc đi theo săn sóc cho cụ. Bầu xong
cụ về đến nhà cầm tay Nguyễn Thành Úc mà nói
một câu lịch sử: C'est ma dernière cartouche. Đấy
là phát đạn cuối cùng của tôi, không bao lâu th́
cụ mất.
Thương tiếc Trần Chánh Chiếu hai
câu thơ sau đây của ông Phương Hữu thật
hay tuyệt:
Quốc tịch mang danh dân Phú Lảng
Thâm tâm vẫn máu họ Hùng Vương.
Tấm gương của cụ Trần Chánh
Chiếu thật đáng để cho những ai thuộc
hàng tịch dám vong tổ hăy soi lấy mà suy hầu tự
kiểm, tự phê.
TÔI BIẾT GILBERT CHIẾU TRONG TRƯỜNG
HỢP NÀO?
ĐẶNG VĂN CHIỂU
LỜI T̉A SOẠN: Từ trước
đến giờ, nhiều người hay nói đến
Gilbert Chiếu, nhưng đều do tài liệu của sách
vở báo chí để lại.
Hôm nay, ông Đặng Văn Chiểu, một
nhà báo kỳ cựu nhất ở Nam bộ, một lớp
với Lê Hoàng Mưu, Nguyễn Kim Đính, từng giao
thiệp với G. Chiếu, biết rơ lịch sử
của ông, sẵn ḷng viết cho độc giả Thân
Chung một đoạn đời của Gilbert Chiếu.
Chúng tôi xin nhường lời cho ông Đặng Văn
Chiểu.
Khi c̣n học trường Chassloup Laabat, tôi có
viết và xuất bản tập thơ nhan đề
"Một cuộc trăm năm". Bạn học tôi là
Trần Quang An, cháu kêu Gilbert Chiếu bằng bác ruột, có
đem thơ ấy cho ông xem, ông bèn biểu An chủ
nhật rủ tôi ra nhà ông chơi. Lúc ấy ông làm chủ
báo "LTTV", khi gặp nhau trong một căn phố
đường Lagrandieré, mới lần đầu, tôi
đă thích nghe ông nói chuyện và càng tới lui chuyện văn,
thương mến một ngày một thân như ruột
thịt bà con.
Ông G. Chiếu, tướng người
chắc chắn mà thấp, đầu hớt trụi,
mặt trắng trẻo, nói năng nhỏ nhẹ khôn ngoan.
Trong lúc lai văng chuyện tṛ, một hôm ông có ra đề cho
tôi một bài báo. Việc đó theo thời ấy khó nói lắm.
Tôi ngồi ngẫm nghĩ... đề chơi trên giấy
mấy chữ nho "Á sử khắc huỳnh liên"
nghĩa là thằng câm nhay vị hoàng liên là vị thuốc
đắng, nhăn mặt mà biết nói nỗi ǵ. Ông
Phủ Chiếu ḍm thấy câu đó cười ngất.
Năm 1914, chợ Sài G̣n khai thị, cuộc bán buôn xung quanh
c̣n thưa thớt. Chiều chiều ông buồn hay dẫn
tôi ra tiệm trà nói chuyện chơi. Bữa nọ ông
Nguyễn Kim Đính có mướn được tờ
"NCMĐ" của ông Heloury, có đến xin ông
Chiếu giúp bài vở, ông bèn khuyên Ô.Đính t́m tôi. Rồi
từ đấy tôi với ông Đính càng tới lui học
hỏi với ông Chiếu. Ông ???, chủ tờ LTTV
viết thơ trách móc ông Chiếu v́ chuyện ông có ăn
thua với tờ NC của chúng tôi, đương nhiên ông
không thèm trả lời, cũng không để chân
đến báo quán LTTV nữa.
Tôi khuyên lơn ông, ông nói: "Làm giặc c̣n
chưa sợ, thứ đồ tầm phào đó sợ
ǵ" kịp đến khi giặc 1914 - 1918, ông Chiếu
sau một thời gian về ở nghỉ trong xóm cầu
Rạch Bần đường Huỳnh Quang Tiên, ra lập
tiệm buôn bán bên hông chợ Sài G̣n. Ông v́ thấy bao nhiêu
mối lợi đều do ngoại quốc tóm thâu,
nội Sài G̣n mà vỏn vẹn có 5, 6 hiệu buôn VN, nên ra
mở tiệm làm gương, chớ nghề thương
mại không làm ông chiếu cố lắm.
Lúc đó, tôi cổ động lập
được cuộc buôn bán ở Trà Ôn, ông Chiếu hay
tin vui mừng khôn xiết.
Lại xảy ra phong trào tẩy chay khách trú,
ông Nguyễn Phú Khai chủ nhiệm báo "???" mở
hội kinh tế mời tôi. Trước khi đi hội
tôi ghé thăm ông Chiếu th́ ông bịnh, lấy làm tiếc
v́ không hoạt động ǵ đặng. Ông lại chỉ
trên bàn tôi xem cuốn "Văn hoa từ điển"
ông viết đặng hai phần. Về chuyện
"Tẩy chay" ông Chiếu nói: Bổn phận làm
người trí thức phải lo mở mang cho
người Đông Dương, được bao nhiêu hay
bấy nhiêu. Chớ chưa ắt xúi giục người
ta làm một việc ǵ mà chắc mễm thành công liền
cho đặng. Vua "Nhựt bổn" biến
nước Nhật trở thành văn minh là nhờ đă
tới thời kỳ nước Nhựt văn minh,
chớ như Charlemanne chúa tể nước Lang Sa xưa
kia hết công lo giáo hóa nước này mà rồi lúc ấy
Pháp cũng không tẩy hóa đặng bao nhiêu, người
ḿnh c̣n phải cần nhiều ngày giờ nữa mới
trông đủ sức cạnh tranh với thiên hạ.
Thật vậy cuộc tẩy chay hô hào inh
ỏi, rờ rà như lửa cháy rân tới bây giờ
bạc tiền vẫn phần nhiều trong tay khách trú.
Từ ấy đến nay tính lại đă
quá 3 chục năm trời. Bây giờ hỏi thiệt VN
đặng mấy người có sự nghiệp to tát.
Chắc chắn không chỉ được gọi là
đại tư bản chẳng phải năm bảy trăm
ngàn hay một hai triệu của những ai nhờ cơ
hội tới gần đó mà dám kêu là nhà giàu.
Người hay lo lắng cho đời
như ông G. Chiếu, gặp lúc dân ta chưa đặng
mở mang trong thơ của ông có câu: "Đồng bào
kêu gọi đă ṃn hơi...". Rồi qua một
đời ông tiền bạc của cải không có chi
để lại. Đến đỗi những lời
lẽ luận bàn trong báo, những cuốn "Hương
Cảng nhân vật", Hoàng Tổ Anh hàm oan cũng bị
ch́m đắm trong thời gian.
V́ cuộc hoạt động quốc sự
ngày trước bị thất bại, nên ông G. Chiếu
mấy năm trở về già ít hay nhắc nhở
đến. Nào hội Duy Tân Công ty, nào nhà ngủ Minh Tân khách
sạn, ông chẳng hề hở môi.
Một hai khi, ông vui hay nhắc thuở xuân
xanh ông đi Rạch Giá làm ăn, làm việc Ṭa Bố, làm
xă trưởng, v.v...
Tôi nhớ lúc ông đương hô hào cổ
động đồng bào Duy Tân người ta cầu
cơ có hai bài thơ này:
Việc đời càng nghĩ lại càng hay
Ngặt
nỗi thiên cơ chẳng dám bầy
Rắn núp
dưới hang xem ngựa chạy
Khỉ
ngồi trên ngọn ngó gà bay
Đông Tây
thỏn mỏn trời phơi xác
Nam Bắc
ê hề đất chở thay
Nhơn
vật mười phần hao tám chín
Thần
tiên thấy vậy cũng chau mày
Chau mày cho
kẻ ở trong trần
Danh
lợi lo hoài chẳng xét thân
Hội
Phật đăng tiên trồng vắng mặt
Nhà binh
cửa Tướng thấy chen chơn
Cơ
trời hành phạt coi ??? lắm
Trời
đất chuyển xây thấy cũng gần
Ai biết
lỗi xưa mau trở gót
E cho quá
bước khó ăn năn
2 bài thơ này người ta đăng đi
đăng lại trong các báo nhiều lần đến
nỗi tôi thuộc ḷng.
Thần Chung tờ 170. Thu 7/8 th 10/49
SÀIG̉N
GILBERT CHIẾU VÀ TỔ CHỨC DUY TÂN Ở
NAM KỲ
Chúng tôi giới thiệu mấy tư liệu
về phía Pháp liên quan đến G. Chiếu và tổ
chức Duy Tân ở Nam Kỳ.
1 - Điện Tín toàn quyền Klobukowski
gởi Bộ Thuộc Địa.
2 - Trích những chỗ liên quan đến G.
Chiếu trong các báo cáo của Toàn quyền giữ Bộ
Thuộc Địa.
Những tài liệu này chụp lại phiên
bản tồn trữ ở Văn khố "Hành chánh
Đông Dương" đường Oudinot Paris.
3 - Những chi tiết liên quan đến
vụ án G. Chiếu trích trong Les Scociétes secrètes en terre D'annam
của G. Coulet, Saigon 1926, Imp Commerceale, ardisc. Conlet đă biên
soạn cuốn sách này đưa vào hồ sơ của
Công an, hầu hết nói về những hoạt
động chống Pháp ở Nam Kỳ, nên rất có giá
trị về tư liệu, chỉ tiếc một
điều là những bài thơ văn, điều lệ
tịch thu được Conlet không để nguyên văn
mà dịch ra tiếng Pháp, nên bây giờ chúng ta rất khó hy
vọng kiếm ra được nguyên văn quốc
ngữ hay chữ nho...
Điện tín - Hanoi, 7/11/1908, Bộ Thuộc
Địa Paris
451 - về Hanoi thư 6 tháng 11, sẽ tiếp
tục kinh lư thứ hai sau. Trả lời số 275 vụ
bắt giữ G. Chiếu là một vụ được
thông báo trong các bức điện 442, 443. Tên Annam này, có
quốc tịch Pháp đă bị bắt giam v́ đă đóng
một vai tṛ tích cực trong việc định tổ
chức khuynh đảo Nam kỳ và v́ các hành vi gian quấy
khác. Klobukowski.
Báo cáo Toàn Quyền Đông Dương gửi
Bộ Thuộc Địa
(Hanoi, 21/4/1909)
Ở Nam Kỳ, tôi không thấy có ǵ
đặc biệt ??? trị, ngoài việc kết thúc
vụ án G. Chiếu ??? nổi bật hơn những
điểm chính của vụ án ??? Pháp của G. Chiếu
và các phụ tá của y ??? nhiều người Tàu mà tên
tuổi đă được biết ??? Kamput, đă có
những liên lạc rất liên tục ???.
Báo cáo Toàn Quyền Đông Dương giữ
???
Báo cáo này chỉ tŕnh bày ảnh hưởng
??? Châu và vụ G. Chiếu cho thấy Nhật đă ???
chống Pháp ở Nhật và các thuộc địa như
???.
... "Những cảm tưởng đă ghi
nhận được ??? tôi xác tín thêm: Thật rơ ràng
những ??? Phan Bội Châu, kẻ gây rối loạn
người ??? đă có thể diễn ra công khai ở Tôkyô
và ??? gặp bất cứ lúc nào một cản trở
nhỏ bé ǵ ???.
Vụ Gilbert Chiếu ở Nam Kỳ 1908:
Ở Nam Kỳ, tuyên truyền chống Pháp
mang một tính chất riêng biệt do sự thúc đẩy
của một người Annam, có quốc tịch Pháp và là
viên chức cũ của Pháp, tên là Gilbert Nguyễn Chánh
Chiếu (1) Nam kỳ là đất trù phú hơn cả trong
ba xứ Annam, cho nên mục tiêu không hẳn là tạo ra
những xáo trộn lẻ tẻ, không ích lợi thiết
thực, cho bằng thu được nhiều tiền giúp
Cường Để bằng cách làm sao duy tŕ
được việc nhắc nhở người lưu
đày luôn luôn sống đặng trong ḷng người dân
Nam kỳ.
Từ ngày 17/10/1907, Gilbert Chiếu đă
đăng trong báo "Le Moniteur des provinces" một bài
khuyến khích canh nông nhưng thực ra bài này che dấu
dưới nhan đề hiền lành, cả một
lời kêu gọi đích thực nổi loạn. Trong
tờ "Lục Tỉnh Tân văn" vừa ra sau
đó, một bài khác nhan đề Lê Tân Văn trong đó
nước Pháp được tượng trưng bởi
một nhân vật một người cha hư hoại, Lê
Thi Vân, hành hạ các con nuôi của ḿnh để thỏa măn
những nết xấu xa của ḿnh. Rồi, ngày 12 tháng
chạp, trong một bài báo khác: Khi những kẻ ở trên
nổi loạn, tác giả đă kêu gọi bất luận
luật pháp chống lại nền hành chánh Pháp. Sau cùng ngày
13 tháng giêng dưới nhan đề "T́nh liên
đới giữa đồng bào và đàm luận về
t́nh liên đới", tờ báo phô trương ca tụng
chiến công của mấy kẻ trộm cắp
định tàn sát toán lính gác người Pháp ở một
đồn canh trong tỉnh Rạch Giá Nam kỳ.
V́ những bài tuyên truyền bằng chữ
viết, công khai làm cho nhà cầm quyền Pháp lo ngại nên
Gilbert Chiếu không đăng những bài như vậy
trong Lục Tỉnh Tân Văn nữa, một tờ báo mà
ông là chủ biên, nhưng ông lại thành lập ở
Chợ Lớn một hội thương mại lấy
tên là Minh Tân Công Nghệ, sản xuất xà bông. Ở Sài G̣n,
ông mở khách sạn Nam Trung, c̣n ở Mỹ Tho, ông mở
khách sạn Minh Tân. Nhà máy cũng như khách sạn chỉ
là những trụ sở trá h́nh để những
người đồng đảng với Gilbert Chiếu
đến đọc để biết một cách
thật an toàn tất cả những sách báo cách mạng mà
Gilbert Chiếu có sứ mệnh phổ biến. Đặc
biệt người ta có thể đọc ở những
nơi đó cuốn Kỷ niệm lục của Phan
Bội Châu và cuốn Sùng bái giai nhơn.
Gilbert Chiếu sử dụng cả nhà Bưu
điện để giữ những bản toàn văn hay
trích bài thơ "Hương cảng nhân vật"
kể lại chuyến đi Hồng Kông của ông
để gặp Cường Để. Trong tập
văn này, chính Gilbert Chiếu đă nói với người
đọc "Tất cả những ai đi Hồng Kông
du lịch đều xin viết thơ cho chúng tôi cả
chúng tôi sẽ lo mọi sự cần thiết".
Thực ra, nhờ những món tiền quyên được
ở các tỉnh hoặc do bán những huy hiệu chức
tước của ??? annnam tương lai, nhiều thanh
niên ham muốn học hỏi đă được Gilbert
Chiếu đưa sang Hồng Kông để đi Nhựt
Bổn, ở đó họ sẽ được Phan
Bội Châu đón nhận.
(1) Chắc tác giả nhớ sai.
Ở đây thấy rơ bản chất
những cố gắng của GILBERT CHIẾU cung cấp
học sinh cho Phan Bội Châu, quyên góp tiền bạc, duy tŕ
bằng những hội họp bí mật và phổ biến
các bài văn đả kích chống đối, phân phát các
huy hiệu chức tước, ḷng tin của người
Annam càng ngày đông để phục hồi
được những truyền thống quốc gia
đă bị người Pháp tiêu diệt. (trang 12 - 13,
lời nói đầu).
VỤ ÁN GILBERT CHIẾU: Ṭa án Mỹ Tho xử
vụ Gilbert Chiếu và đồng bọn 91 người
năm 1909.
Hồ sơ nhan đề: "Gilbert
Chiếu et consorts, ordonnance de non lieu prise an cabinet d'instruction
de Mỹ Tho (Cochinchine) le 21 du mois d'A vril 1909 par le juge
d'instruction Delacroix, document joint aux inculopes (91).
Aff. 0/09 et 0/0223. Chúng tôi chưa t́m ra
được hồ sơ này.
Trong cuốn sách Conlet thường nhắc
đến Gilbert Chiếu, chúng tôi trích dẫn những trang
đó.
- Phong trào thiếu tiền, nhất là từ
sau vụ Gilbert Chiếu (trang 15).
- Tịch thu được điều
lệ của "Việt Nam Quang Phục" ở
một trụ sở tổ chức của Gilbert Chiếu
(trang 138).
- Việc phân phát các tước hiệu
rất được coi trọng, v́ "Niềm tin vào
một trật tự mới sẽ được
thực hiện thật là mănh liệt đến nỗi
các chức vụ do Cường Để phân phát các
bằng sắc cấp những tước hiệu
Tổng Ti và đại biểu đă được
đón nhận một cách thật nghiêm chỉnh và ở
khách sạn Minh Tân, một buổi họp đặc biệt
đă được tổ chức đề cao rao
những chức vụ do Cường Để chỉ
định; trong số những người
được vinh hạnh trên, có nhà sư Lăo sư, lănh
tụ tôn giáo của phong trào, Nguyễn Văn Kiên, Giám
Đốc hăng Minh Tân, Lưu Đ́nh Ngoạn địa
chủ giàu có tỉnh Vĩnh Long. Cũng nên lưu ư trong lúc
xảy ra những biến cố ở Hà Nội, những
chức tước, huy hiệu tương tự do
Cường Để thiết lập đă
được phân phát cho những kẻ âm mưu"
(trang 228).
- Ngày 7-10-1909, bản dự thảo một tài
liệu để gởi đi, bắt được
tại nhà Dương Minh Thanh, một người trong
số những cổ động của Gilbert Chiếu,
đây là bản dự thảo liên quan đến Hội
Duy Tân, sau này trở thành Minh Tân, nhằm mục đích
chuyên trách giữ thanh niên Annam đi Nhật và để
học ở Nhật, tất cả đều miễn phí
(trang 284).
- "Ở Mỹ Tho và Sài G̣n, Gilbert Chiếu
lập khách sạn - Minh Tân và Nam Trung" để cho
những đồng đảng có thể tụ họp và
trao đổi thông báo cho nhau mà không e ngại ǵ. Ở Sài G̣n
Nguyễn An Khương cũng lập khách sạn Chiêu Nam
Lầu cùng một mục đích với khách sạn Nam
Trung của Gilbert Chiếu.
- Ở làng Dương Điềm (Mỹ Tho)
Nguyễn Văn Lương phụ trách tuyên truyền cho
Gilbert Chiếu, vào tháng 7 năm 1908 đă xác định vai
tṛ và ích lợi của những hội do Gilbert Chiếu
thành lập như sau: "Những ai ghi tên sẽ
được an tâm trong trường hợp người
Nhật xâm lược xứ này" (trang 285).
- "Băo Quốc nhơn hiệp thương
xă chương tŕnh" do nhà in ở Tokyo làm, đă bắt
được ở làng Trương Loan (trang 288).
- Vụ án Gilbert Chiếu xử năm 1908
ở Nam kỳ đă cho thấy ở các khách sạn Minh
Tân tại Mỹ Tho và Nam Trung tại Sài G̣n, những sách báo
chống đối kịch liệt do các người yêu
nước Annam lưu vong hay di dân làm ra đă
được đọc và b́nh luận như thế nào.
Gilbert Chiếu vừa cho phổ biến những tư
tưởng bài pháp, vừa chuẩn bị khởi nghĩa
bằng 5 phương thức khác nhau, phương thức
thứ hai là: Phân phát những tác phẩm của Phan Bội
Châu cuốn "Kỷ niệm lục" là cuốn sách
được đọc ở khách sạn Minh Tân,
cuốn "Sùng bái giai nhân" đă được phân
phát ở khách sạn Minh Tân do tay nhà nho Cả Trần làm
việc cho Gilbert Chiếu.
"Một người tên là Hương Hào
Trí ở B́nh Trân (G̣ Công) thú nhận đă nhận từ tay
Nguyễn An Khương, quản lư lục tỉnh Tân
Văn một loạt những bài thơ chống Pháp,
đánh maư chữ, đă học thuộc ḷng và đọc
lên một số đoạn lúc điều tra. Một vài
ngày sau, ông ta nhận được một thơ của
Gilbert Chiếu dặn phải đốt những ǵ đă
gởi cho anh ta. Trong số những người chúng tôi
điều tra được đă nhận tài liệu
từ tay Nguyễn An Khương, có người tên Quốc
ở Trà Vinh - được viên thẩm phán điều
tra yêu cầu giải thích nội dung bản văn
người đó nhận được, đă trốn
khỏi làng.
- ... Xét rằng một bản dự thảo
thông tri ngày 7 tháng 10 năm 1907 liên quan đến hội Duy
Tân, sau trở thành Minh Tân đă t́m thấy tại nhà
một người cổ động của Gilbert
Chiếu, tên là Dương Minh Khanh, phụ trách tuyên
truyền chống Pháp, trong đó có nói ông phủ (1) đă
tổ chức hội để giáo dục người
Annam làm cho họ thông minh hơn, và mục đích theo
đuổi là làm cho họ thành công trong việc làm ăn, và
nếu người nào được tiếp xúc muốn
biết rơ các chi tiết liên quan đến hội, th́
người đó cứ việc đến tại nơi
sẽ chỉ cho biết để được am
hiểu mọi sự thực.
... chúng tôi ghi nhận sự kiện này liên
hệ đến việc giáo dục quần chúng bằng
trí nhớ: "Trong một nghi lễ kỷ niệm ở
làng Lạc B́nh (Tân An) tại nhà bà Cả Nhân, nhà nho
Dương Minh Thành đă ngâm to tiếng bài thơ chống
Pháp của Phan Bội Châu đă học thuộc ḷng và dân
làng liền ghi chép ngay sau đó bài thơ để học
thuộc ḷng (trang 295).
(Chỉ thị Gilbert Chiếu)
ĐẶNG THÚC LIÊNG (1867 - 1945)
MỘT BẬC TIÊN PHONG TRONG LÀNG BÁO SÀI G̉N
(Theo Thông số 31. 15/4/1960 Saigon).
Đặng Công Thắng
Ai cũng biết cụ Đặng Thúc Liêng
là một nhà Nho tiên phong trên trường văn trận bút
trong thời kỳ người Pháp mới sang chiếm cứ
"Nam kỳ Lục tỉnh". Cụ đă sống
đồng thời với các cụ Pétrus Trương
Vĩnh Kư, Trương Minh Kư, Diệp Văn Cương
v.v... và đă chủ trương những tờ báo
đầu tiên bằng Việt ngữ tại Sài G̣n.
Chúng tôi rất hoan hỉ đăng sau đây
bài truy niệm của người con Thứ nam của cụ,
ông Đặng Công Thắng, giáo sư Anh văn ở
Học viện The Pelyglote House. N.V.
Cụ Đặng Thúc Liêng, ba tôi sanh năm
Đinh Măo, 1867, nhằm lúc nước nhà Đại Nam
bị Pháp thực dân xâm lấn.
Lúc c̣n thơ ấu tên đặt là Huẩn;
đến 18 tuổi lấy biệt hiệu Trúc Am. Từ
30 tuổi đến sau mới lấy tên Đặng Thúc
Liêng, biệt hiệu Lục Hà Tẩu và bút tự Mộng
Liêm.
Thân sanh của cụ là cụ Án sát
Đặng Văn Duy, người Gia Định. Họ
Đặng xưa kia đă rất lâu kiểm soát cả
mười tám làng vườn trầu ở miệt Củ
Chi, Hóc Môn bây giờ là ấp Tân Phú Trung, thuộc tỉnh
B́nh Dương.
Năm 1862, quân Pháp vào đánh Gia Định;
vua Tự Đức sai Án sát Đặng Văn Duy về
chống cự tại Chí Ḥa; v́ ông Án sát là người có uy
tín và đạo đức với bà con ở Gia
Định và Tây Ninh, được dân chúng ở đây
ủng hộ, nên vua Tự Đức chắc chắn ông
sẽ được phần thắng địch.
Nhưng mà nhiệt tâm và cảm tử suông cũng không
phương nào ăn nổi chiến cụ và binh thuật
tối tân của Pháp. Sau bốn tháng trường chống
giữ đồn Chí Ḥa, quân ta đành cam thất bại.
Chiếu công trạng quân nhung, kể luôn hai
chục lính và một viên quan Ba Pháp (1) bị dơng sĩ
của ông Đặng Văn Duy hạ sát, nên tài đức
của ông được vua Tự Đức châu phế
và sắc tứ; rồi bổ nhậm ông làm Án sát tỉnh
B́nh Thuận. Qua mấy năm sau, ông Đặng Văn Duy
đi công cán nhiều nơi trong toàn cơi Trung kỳ, hằng
mưu đồ khởi nghĩa. Nhưng ảnh
hưởng chánh sách cầu ḥa của Nguyễn
Trường Tộ và Phan Thanh Giản chận đứng
cuộc bạo động mà ông Đặng Văn Duy
đă toan tính khơi ng̣i.
<<1. Đến bây giờ cái mồ kim
tự tháp của viên quan Ba Pháp vẫn c̣n nằm bên tay trái
đường Sài G̣n - Tây Ninh, khoảng 10 cây số, cách
chợ Bà Quẹo 1.000 thước.>>
Đặng Văn Duy cùng nhiều tri kỷ,
xoay qua việc cổ động cho phong trào duy tân, xuất
dương du học.
Bấy giờ nhiều bậc chí sĩ Trung
Nam thường nhóm họp trong tư dinh của ông Án
Đặng Văn Duy, nhờ đó mà Đặng Văn
Huẩn hấp thụ được rất nhiều
những tư tưởng ái quốc cứu dân mà các
cụ gieo trong đầu óc thông minh của Đặng
Văn Huẩn. V́ vậy, Huẩn cố học cho hiểu
biết, chớ không màng đến khoa cử, phải suy
tán tinh thần. Lắm sĩ phu nhiệt thành thật
học bấy giờ không c̣n trông mong ǵ đến
triều đ́nh hủ bại ở Huế nữa.
Vậy, Huẩn c̣n thiết ǵ đến quan trường?
Sau đó, ông Án Đặng Văn Duy chết tại B́nh
Thuận.
Sau khi đem linh cữu của thân phụ
từ B́nh Thuận về an táng nơi mộ phần quê nhà
ở làng Tân Phú Trung, Gia Định, Đặng Văn
Huẩn toan tính ra đời với biệt hiệu Trúc Am.
HAI NGƯỜI CON CỦA PHAN THANH GIẢN:
PHAN TÔN VÀ PHAN LIÊM.
Năm ấy, 1886, Trúc Am non 19 tuổi, chí khí
nam nhi bồng bột nhờ thêm ḷ tuyên huấn của hai
con của Cụ Phan Thanh Giản, là ông Phan Tôn và Phan Liêm. Hai
ông này học vấn cao thâm, nghe theo di chúc của thân
phụ, hai ông triệt để bài Pháp. Hai ông đáng
bực chú của Huẩn, thương mến Huẩn và
dạy cậu thêm mọi điều hay với các pho sách
Hán tự quư giá mà cụ Phan Thanh Giản cẩn thận
từ bên Trung Quốc đem về. Sách ấy mở
rộng trí năo hơn loại sách mà kẻ ham mê khoa mục
phải nhai măi trong nước ta ngày xưa.
Được cơ hội giáo hóa thuận
tiện và uy tín thanh cao nhà họ Phan, cậu ấm Huẩn
chẳng bao lâu thành một tân nho sĩ lỗi lạc.
Phương châm cứu quốc đă sẵn của nhà;
bấy giờ chỉ cần gia giảm là đem ra dùng
được.
Ngoài văn học Hán tự, Đặng
Văn Huẩn c̣n thông thạo y dược và trọn
bộ Kinh Dịch. Làm thầy thuốc để sanh nhai và
gây cảm t́nh hữu nghị. Làm thầy bói theo gót
Trạng Tŕnh - để suy luận thời cơ mà
liệu lượng bề tấn thủ. Hai yếu
tố ấy luôn luôn giúp cho Trúc Am thành công và bảo tồn
thể thống của môn đồ Khổng Mạnh
đến hơi thở cuối cùng.
Sau khi vua Hàm Nghi bị Pháp đẩy qua
Algérie, cuối năm 1884, tranh ngôi tiếm vị xảy ra
liên miên trong Hoàng cung Huế. Rốt cuộc Pháp chọn
Đồng Khánh mà đưa lên ngôi, vào năm 1885.
Chánh phủ Pháp đặc phái Paul Bert sang làm
Khâm sứ Bắc kỳ. Paul Bert vốn là nhà bác học
thiên về xă hội chủ nghĩa mới nảy nở
bên Pháp với đệ tam cộng ḥa. Paul Bert nhờ
cụ Pétrus Trương Vĩnh Kư phụ tá.
Paul Bert đă nhờ Pétrus thuyết phục
vua Đồng Khánh trong kế hoạch duy tân: Pháp sẽ
chiếm trọn Nam kỳ làm một tỉnh hoàn toàn
thuộc Pháp như Corse và Algérie. Từ Nha Trang đến
Nam Quan, nước Đại Nam sẽ được
hưởng chủ quyền thật sự.
Chánh sách mới của Pháp ấy
được nhiều sĩ phu tán thành. Trong đám sĩ
phu ấy - đứng đầu có hai cụ Phan Tôn và Phan
Liêm - tích cực ủng hộ Đồng Khánh. Vua bèn cho người
đi học bên Pháp, theo phá Đoàn Phan Liêm. Đến Pháp
rồi, phái đoàn bị buộc phải học tiếng
Pháp mới theo dơi khoa học khác được. Phan Liêm
đề nghị nhờ thông ngôn giảng nghĩa, mới
được mau chóng. Nếu phải học tiếng
Pháp, th́ chừng nào thành tựu với khoa học?
Được chấp thuận, đề nghị ấy
sanh ra hiệu quả dị kỳ: Phan Liêm trở thành
kỹ sư khoáng sản trong ṿng sáu tháng. Về
nước ít lâu Phan Liêm hết thấy ánh sáng nữa.
Nhưng mà cụ vẫn đi từ Trung ra Bắc mà t́m ra
than đă ở Nông Sơn và Ḥn Gay mà sau này Pháp tiếp
tục khai thác. Đến đâu, cụ bảo
người cộng sự mô tả địa thế,
cỏ cây, màu mè đất cát mà họ khoan đào
dưới đất chục thước. Cụ đoán
ra ngay có mỏ ǵ hay là không.
Vua Đồng Khánh lại bày ra Thông
Thương Nha, nhờ cụ Phan Tôn lănh đạo, Phan Tôn
bèn phái Đặng Thúc Liêng sang Hương Cảng
để mở trụ sở mậu dịch với
nước Trung Hoa. Từ 1887 đến 1888 công cuộc
tiến hành đáng kể lắm. Nhưng c̣n gặp
trở ngại của bọn quan liêu hủ bại ở
miền sông Hương nữa.
Trúc Am Đặng Thúc Liêng về Sài G̣n hỏi
ư kiến Pétrus Kư, rồi mới trở ra Huế gặp
Phan Tôn để phúc tŕnh công cán. Lần này Trúc Am có sẵn
một kế hoạch thương mại hiệu quả
phát sanh từ chỗ đàm luận với tay buôn sành bên
Tàu và bên Anh. Trúc Am chủ trương cho nhiều
người qua Hương Cảng và Anh quốc hấp
thụ ngôn ngữ và khoa học Anh, v́ Trúc Am đă nhận
thức cái thế lực bá chủ hoàn cầu do
người Anh tăng cường măi măi với
đại đội thương thuyền và chiến
hạm vô địch.
Rủi thay Paul Bert, mới công tác sáu tháng
ở Bắc kỳ, đă vướng bịnh kiết
lỵ, phải cấp tốc về Pháp. Bọn thực
dân Pháp gay cấn với Pétrus Kư và toan hăm hại cụ; cho
nên cụ bỏ về ẩn dật trong Chợ Quán,
Chợ Lớn. Qua năm 1889 Đồng Khánh, v́ yếu
đuối mà lo lắng nhiều quá, hết máu, phải ĺa
trần!
Trong hoàn cảnh thê thảm ấy, ông Trúc Am
Đặng Thúc Liêng nghĩ rằng cơ hội may mắn
cho Đại Nam đă hết. Bây giờ phải tùy
sức cá nhân mà gỡ rối tới đâu hay đó.
PÉTRUS KƯ GIỚI THIỆU
Trúc Am bèn trở về Gia Định tạm
trú một ít lâu; rồi ra ngồi tiệm thuốc Bắc
của một người Tàu quen thuộc, v́ Trúc Am nói
tiếng Quảng Đông rặc ṛng.
Bạn bè của Trúc Am thêm nhiều. Nhờ
Pétrus Kư giới thiệu, môn đồ của cụ như
Trương Minh Kư, Diệp Văn Cương v.v...
quyến luyến với Trúc Am.
Một năm sau, một quan cai trị Pháp tên
là Landes muốn học chữ Hán và nghe ư kiến của
một cố vấn Việt Nam trâm anh tuấn tú là
Trương Minh Kư, đầu pḥng Thông ngôn, bèn tiến
cử Trúc Am. Ba phen Trúc Am từ chối, bởi v́ có
lập tâm tẩy chay Pháp rồi. Nhưng Trương Minh
Kư khuyên nhủ rằng ông Landes có tư tưởng cấp
tiến và muốn khảo cứu văn hóa Đại nam;
ra làm thầy của quan cai trị Pháp không phải nô
lệ của Pháp như bọn Tôn Thọ Tường
đâu. Trúc Am chấp thuận, mong rằng nhờ dịp
này mà làm thêm nhiều việc ích lợi khác.
Ông Landes quư mến Trúc Am vô cùng, nhờ tư
cách liêm sỉ và tự trọng của nhà nho đắc
đạo. Sau này nhiều quan cai trị đồng chí
với ông Landes cũng tôn kính Trúc Am trong địa vị
sư huynh. Đến năm 1892, Trúc Am từ hẳn
chức vụ đó mà ra đàn ngôn luận. Gia Định
báo, Nông Cổ Mín Đàm, Nam Trung nhựt báo, Lục tỉnh
Tân Văn v.v... đến Đồng Pháp Thời báo,
Thần Chung (của Diệp Văn Kỳ) và tờ báo do
Thúc Liêng chủ nhiệm, Việt Dân báo (1933 - 1937) là chỗ
dụng văn của Trúc Am Đặng Thúc Liêng.
Đặng Thúc Liêng, Trúc Am, năm 1890,
đổi biệt hiệu ra là Mộng Liêm.
Ban đầu, trong các thi văn của
Mộng Liêm ta đều thấy những tiếng chuông
cảnh tỉnh, khêu gợi, so sánh và nhen nhúm lại ḷ
lửa nho giáo và máu trung nghĩa cổ truyền của dân
tộc Đại Nam.
Trong một loạt bài đăng vào Nông
Cổ Mín Đàm, Mộng Liêm điều ḥa Khổng
học với tư tưởng cấp tiến đề
cao trong sách vở của Voltaire, Jean Jacques Ronsseau, Lineoln, v.v...
mà học giả cải cách Trung Hoa đă dịch ra chữ
Hán. Mộng Liêm lần lượt viết ra những kư
ức của ḿnh về cuộc bút đàm thảo luận
triền miên với các văn hào cách mạng như
Khương Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Dật
Tiên, Hồ Hán Dân, và cộng sự viên của Thương
Vụ Ấn Thơ Quán ở Thượng Hải.
Trước kia, nhờ lắm lần ra
Bắc, về Nam, Mộng Liêm đă kết chặt dây thân
ái tâm giao, đồng chí với những mấm già cách
mạng đủ khuynh hướng nhưng nhằm
một mục tiêu tranh thủ độc lập, tự do.
Các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng,
Phạm Duy Tốn và rường cột của đoàn
thể Đông Kinh Nghĩa Thục đều khắn khít
với Đặng Thúc Liêng.
Thanh tra liền hạ lịnh ngưng
chức và giam Thọ như một tên tướng
cướp hèn mạt. Rồi giải Thọ về Sài G̣n,
cho ở tù vài tháng, rồi đă đít nó luôn. Cha của
Thọ, là Tổng đốc Trần Bá Lộc, kể
lể bao nhiêu công trạng Việt gian của ḿnh
để chuộc tội cho con, mà chẳng
được. Lư do: bên phe của Mast, dân chủ xă hội
đă phúc tŕnh và yêu cầu trừ khử bọn sâu mọt
để trấn tỉnh nhân tâm, theo lời đề
nghị của Liêng. Ít năm sau, Thọ phát điên v́
thất chí. Rồi, một ngày nọ, chàng lấy súng
lục tự tử trong biệt thự ở quận
lỵ Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho.
Sau năm 1905, Nhựt Bổn thắng Nga
Hoàng. Vinh diệu cho người Á Đông ấy làm cho chí
sĩ Việt Nam bồng bột và mong mỏi sự
cứu trợ của Phù Tang. Phong trào Đông Du phôi thai, và
bành trướng chủ ư hướng về Tokyo (Đông
Kinh).
Hơn 100 thanh niên tuấn tú do đồng chí
của Liêng và Chiếu t́nh nguyện xuất dương,
trong bầu không khí hăng say hy vọng phục vụ
tổ quốc. Họ đă ở đó gần hai tháng.
Nhựt, vừa mới lên chân, lại kư kết với Pháp
một điều ước trung lập. Tức thời
thủ tướng Ito hạ lịnh trục xuất thanh
niên Việt Nam. Các ông này tản lạc qua Tàu hay là Tây và
phần nhiều ở luôn đó mưu đồ cách
mạng: một số ít người như Nguyễn Háo
Vĩnh và Trương Công Thoại trở về
nước lo kinh dinh thương măi tà nghị luận
chính trị công khai, gây sôi nổi trong những năm sau
1920. Học sinh Việt Nam vừa bị ngược
đăi bên Nhựt th́ Liêng và bốn mươi đồng
chí bị thực dân Pháp tống giam trong khám
đường ở tỉnh lỵ Mỹ Tho, vào tháng
năm dương lịch 1905.
Bị đảng cấp tiến của
cựu tham biện Pháp, Landes và Mast, đệ tử
của Liêng trước đây, can thiệp chính phủ
thuộc địa buộc ḷng phải phóng thích Liêng và
bốn mươi đồng chí, sau bốn tháng giam
cầm.
Mới có 39 tuổi đầu mà lại c̣n
thừa nhựa sống và học thức uyên thâm,
Đặng Thúc Liêng đă rơ càn khôn cấn chấn... và
thảo lại kế hoạch xuất xứ... Bấy
giờ Liêng quây theo nghề y dược mà lập một
tiệm thuốc Bắc đặt hiệu là
"Phước Hưng Đông" trú tại đầu
cầu sắt làng Vĩnh Phước, thành phố Sa
Đéc, một thời gian sau, Liêng phó thác tiệm ấy,
vài chục mẫu vườn đất và năm
đứa con thơ cho người vợ hiền, nhũ
danh là Nguyễn Thị Nhơn. Xách va ly đi chơi và làm
thuốc, khi th́ Liêng dạo khắp lục tỉnh, khi th́
thăm viếng cố đô Huế và Hà Nội.
Đến năm 1923 trên tờ Trung Lập
báo, Đồng Tháp thời báo và Công Luận biệt
hiệu Lục Hà Tẩu của Đặng Thúc Liêng đă
xuất hiện sau bút hiệu Mộng Liêm mà tuyên truyền
tiếp tục những lư tưởng xưa kia với
nội dung và thể tài mới mẻ.
Đồng chí đắc lực với
Đặng Thúc Liêng là cụ Trần Chánh Chiếu. Nhà chí
sĩ này có học thức tân tiến, nhiều của
cải và làm chánh tổng ở Rạch Giá. Cụ Chiếu
lại nhập Pháp tịch, lấy tên là Gilbert. Là dân Pháp,
Gilbert Chiếu hoạt động dễ dàng v́
được hưởng tự do dân chủ của Pháp.
Tương đắc với nhau trong những ngày dài,
đêm quạnh tại nhà riêng của Gilbert ở Rạch
Giá và của Mộng Liêm ở Sa Đéc, hai đồng chí
mới nghĩ ra một đường lối thoát: kinh
tế và lư tài. V́ phải làm giàu cho nước nhà
trước hết để khỏi bị ngoại
quốc lũng đoạn thương trường,
nhứt là Chệt và Chà và, kẻ cho vay thắt họng,
bọn con buôn tráo trở.
Kế hoạch được thực hành
dưới nhăn hiệu Minh Tân Công Nghệ, một Công ty
kinh dinh công thương kiểu mẫu đầu tiên.
Hoạt động ráo riết, Minh Tân Công Nghệ
đặt trụ sở tại một căn phố
ở đường Charner (nay là Nguyễn Huệ, ngang
hăng xe Renault); sản phẩm nhứt của công ty là xà bông
hiệu Con Vịt, được đồng bào nhiệt
liệt hoan nghinh. Kế đó Mộng Liêm toan lập
một xưởng chế tạo diêm quẹt tại
tỉnh lỵ Mỹ Tho. Hiển nhiên, v́ hai hóa phẩm
rất thông dụng đă làm giàu cho ngoại kiều, cho nên
bọn này cương quyết phản động.
Nhưng họ phá hoại ít hơn bọn Việt gian do
Đốc phủ Trần Bá Thọ cầm đầu.
Thọ là con duy nhất của Tổng đốc Trần
Bá Lộc khát máu đă chém giết và đập quét hàng
vạn dân Việt Nam. Thọ luôn luôn âm mưu hăm hại
Đặng Thúc Liêng và Gilbert Trần Chánh Chiếu. Năm
1902, Thọ đổi về làm tri phủ quận Tân B́nh,
Sa Đéc; quen thói tàn bạo và đa dâm Thọ hay bắt con
gái mà cưỡng bức. Thọ lại ở gần
Đặng Thúc Liêng, v́ ông này đă lập nghiệp nơi
quê vợ ở tại làng Tân Qui Đông tỉnh Sa Đéc.
Thọ ŕnh ṃ hành vi của Liêng và toan gài bẫy Liêng. Cụ
này mới từ chức chủ bút của tờ Lục
Tỉnh Tân Văn do ông huyện Nguyễn Văn Của
xuất bản, ở tại góc đường Catinat (nay
là Tự Do, tức là Pḥng Thông Tin bấy giờ). Sẵn
dịp có tham biện Pháp tên là André Mast yêu cầu, Liêng bèn
nhận lănh làm giáo sư cho quan cai trị ấy. Hai
thầy tṛ vận động đổi về Sa Đéc.
Trong khi Mast có oai quyền trong tỉnh th́ Liêng, với
chức cố vấn, lại được thêm thế
lực. Nhờ đó mà Liêng thi ân bố đức
triệt để. Thọ bực bội lắm! Nhưng
Thọ chẳng biết làm ǵ.
Ngày nọ, nghe tin Thọ cưỡng
đoạt vợ người giữa tiệc cưới
ở làng Tân Dương, tức khắc Liêng đề
nghị với tham biện Mast điện tín về
Phủ Thống đốc Nam kỳ mời một thanh tra
Pháp xuống ḍ xét cái tồi bại của Phủ Thọ.
Vừa hỏi xong khẩu cung của Thọ,
VĂN NGHỆ VÀ TƯ DƯỠNG TINH
THẦN
Trong các giới Việt Nam, 50 năm về
trước, đi tới đâu mà chẳng nghe cái tật
hào hoa phong nhă của cụ Đặng Thúc Liêng, "ông già
Ba Tri số 2" nối nghiệp cho "ông già Ba Tri
số 1" đă ra Huế làm náo động triều
đ́nh để xin ân xá cho thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa
bị vua bắt tội. Trong giới tài tử phong lưu,
măi măi có tiếng ngâm:
"... Họ đồn Đặng Thúc Liêng
chơi quá lố
"... Có
hay không? - Giả ngộ đó mà thôi!
... Gẫm
bao lâu sống sót trên đời?
Nhịn
hóa dại, chửi đi, kẻo uổng!
Nhưng
trách nhiệm chớ nên bỏ luống,
Đức
tài hèn đem cống hiến nhân dân.
Làm sao
cũng giữ tinh thần
Có giải
trí ăn, mần mới giỏi!"
Sau khi chấn chỉnh hát bội trong cái
rạp hát mà Liêng rủ tri âm lập ra ở làng Vĩnh
Phước, tỉnh Sa Đéc, Liêng mới sáng kiến áp
dụng nghệ thuật đờn ca Trung Nam mà diễn
kịch, sau này gọi là hát cải lương.
Kết quả là anh André Nguyễn Văn Thận
bắt chước lối cải lương ấy trong
gánh hát xiếc của anh cũng lập ra ít năm sau
tại thành phố Sa Đéc. Rồi đó, nối đuôi
là các gánh hát của Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, Văn
Hí Bạn, Huỳnh Kỳ (chỗ đào tạo chị
Bảy Phùng Há) v.v... kể ra chẳng hết.
Thuở trước, người Việt
trong ba kỳ coi nhau tợ người dưng kẻ
lạ. Đến năm 1926 Bắc kỳ bị vỡ
đê nên đói khát. Cụ Liêng lănh một phần lớn
đi quyên tiền để cứu tế, và thảo ra
"Quốc Văn Hồn" ??? văn đọc ở
nhiều chỗ đô hội cho đồng bào nghe.
Đại khái cụ Liêng nêu văn hóa nước nhà,
viết bằng tiếng Việt thông dụng cho ba kỳ
và những thời cuộc lịch sử và giải thích
nhằm mục đích nhấn mạnh vào t́nh tương
thân tương ái của con cháu Lạc Hồng.
Thi văn, tuồng, truyện và luận
thuyết của Đặng Thúc Liêng đă in ra và phát hành
buổi xưa ấy rất nhiều. Nhưng, trải qua
các biến cố gần đây, phần lưu trữ
tại nhà chúng tôi đă bị bà Hỏa thổi tiêu mất
hết.
Năm 1931, thân phụ chúng tôi xin
được phép xuất bản tờ báo hàng ngày nhan
đề "Việt Dân báo".
Khởi đầu từ năm 1930, phong trào
quật khởi của thanh niên Việt Nam càng tăng gia,
cho nên chính phủ thuộc địa càng thắt chặt
xiềng xích, nới rộng ngục thất và trại
giam. Trong Nam kỳ hội kín do Nguyễn An Ninh lănh
đạo hoạt động ráo riết, có những
phần tử khuynh cực tả tham gia như Tạ Thu
Thâu, Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn Văn Thạch,
đă dùng báo Pháp giữ La Lutte và Việt ngữ, là tờ
Tranh Đấu làm cơ quan tuyên truyền. Nguyễn An Ninh
là con trai lớn của bác Nguyễn An Khương ở
Hóc Môn, một đồng chí của thân phụ tôi. Từ
ngày 16 tháng 3 năm 1925, sau khi bị đuổi khỏi
trung học Chasseloup Lambat, Saigon (tức là trường Jean
Jacques Rousseau ở đường Hồng Thập Tự
bây giờ) v́ cái tội đưa báo "La Cloche fêlée"
(Cái Chuông Rạn Nứt) của anh Ninh viết bằng
chữ Pháp cho bè bạn ở ban tú tài xem, anh Ninh thích tôi
lắm. Cộng sự với tờ La Cloche Fêlée của anh
và cụ luật sư Phan Văn Trường, tôi
được cơ hội tấn bộ về văn
chương Anh Pháp bổ thêm vào một mớ Hán học
của thân phụ tôi tập truyền.
Trên diễn đàn Việt Dân báo tôi chẳng
ngớt công kích đảng lập hiến của lănh
tụ thân Pháp là Bùi Quang Chiêu, bấy giờ có tờ La
Tribune Indochinoise làm cơ quan phản động, chống
đối hăm hại thanh niên cách mạng. Nhờ uy tín
của Đặng Thúc Liêng, nhiều bực lăo thành cách
mạng ủng hộ chúng tôi. Những hoạt động
từ năm 1930 của Đặng Thúc Liêng đều có
tôi nài nỉ thúc giục.
Đến năm 1941 Nhựt Bổn chiếm
cứ Việt Nam; tay sai của chúng cố gắng o bế
các phần tử cách mạng để kể nể cho
chúng thỏa măn cái mộng xâm lăng Đông Nam Á. Biết
rơ thâm tâm độc hiểm của thần dân Thiên Hoàng Hiro
Hito, thân phụ tôi giả vờ bệnh tật để
tránh tṛ lợi dụng ấy.
Về phương diện xă hội khác,
Đặng Thúc Liêng đă dày công sáng lập Việt Nam Y
Dược Hội năm 1934, nhằm mục đích
bảo vệ lương y và dược sĩ Đông
Phương đă nhiều phen điêu đứng.
Cuối năm 1944, để tránh nạn bom
tàn khốc ném xuống Saigon Chợ Lớn mỗi ngày, thân
phụ chúng tôi cùng gia đ́nh về quê ngoại tôi, ở
làng Tân Qui Đông, châu thành Sa Đéc. Dưỡng nhàn một
ít lâu, chúng tôi lo tổ chức ổ kháng chiến chống
Nhựt sau ngày đảo chánh, 9 tháng 3 dl, 1945. Một
đêm, mồng 10 tháng 7 dương lịch, cụ
Đặng Thúc Liêng về nhà nằm liệt v́ cảm
mạo rất nặng. Tuổi già, sức yếu, cụ
tạ thế đúng ngọ ngày 16 tháng 8 dương
lịch 1945, và tạm thời an táng ở làng Tân Qui
Đông, quận lỵ Sa Đéc. Cụ để lại
cho con mấy pho kinh sử và một gương nho nhă, quí
báu ngàn lần hơn tài sản của Thạch Sùng.
Hiện giờ cụ c̣n lại ba người con: hai
chị tôi lo tu dưỡng và kẻ chép truyện này c̣n mang
lắm nợ văn chương.
ĐẶNG THÚC LIÊNG
ĐUỐC NHÀ NAM 24-9-71
Người vẫn một thời khét
tiếng "Muôn trùng non nước từng làm khách,
Mười tám thôn vườn trầu ấy quê nhà".
Kể đến tiểu truyện cụ
Đặng Thúc Liêng, trước hết phải nói về
cái tên của cụ cho khỏi ai thắc mắc. Đúng
theo mặt chữ Hán tên của cụ là Liên tức Hoa Sen,
nhưng ông Chánh Lục Bộ thời ấy tức Ủy
viên hộ tịch theo thuật ngữ học, đă ghi vào
sổ bộ với cái tên Liên có sai chính tả.
Trường hợp ấy cũng là trường hợp
cụ Nguyễn Chánh Sắt mắc phải, đúng ra là
Sắc nhưng Ủy viên hộ tịch ghi là Sắt,
thế là phải chịu cho khỏi lôi thôi rắc rối
về mặt thủ tục giấy tờ, nhưng đă
có người họ Phan tên Khôi khét tiếng là
"Thiết diện vô tư" như Bao Hắc Tử
đời Tống khi đóng vai "Ngự sử trên
đàn văn". Ông ấy đă chỉnh cụ Đặng
Thúc Liêng về cái tên... bắt thông ấy một mách tơi
bời. Khiến nên trong làng văn truyền làm giai
thoại và rồi lại có một người họ Lê
tên Lương Phụng hiệu Tùng Lâm tục gọi là ông
Cử Tùng Lâm lại cũng xắn tay áo cầm bút làm
thơ chọc cụ Đặng Thúc Liêng chơi, mà 2 câu
thúc kết thật để đời:
Đời ông chẳng giận hờn ai
hết
Chỉ giận Phan Khôi một chữ G.
Chúng tôi nhắc lại chuyện trên, thật
không dám bất kính với cụ Đặng Thúc Liêng mà
chỉ v́ chuyện đă rồi, chuyện đă trở
thành giai thoại nên phải nói ra để minh oan cho
cụ đă bị Phan Khôi sửa lưng ác quá. Lối
chỉ tại ông Ủy viên hộ tịch thuở ấy
mà thôi. Cụ Đặng Thúc Liêng cũng là một chí sĩ
đáng kính, cụ là bạn thân của Trần Chánh
Chiếu, cả hai đều nặng ḷng ưu ái quốc
gia như nhau. Nhất là lại cũng đứng trên
một chiến tuyến chống trả với
đốc phủ Trần Bá Thọ. Chỉ một
việc ấy đă nói lên can trường khí phách của
cụ rồi, huống là cụ c̣n nhiều ưu
điểm khác rất đáng được đề cao
nhắc nhở.
Đặng Thúc Liêng sinh năm Đinh Măo 1869,
tức là chào đời trong lúc Nam Kỳ Lục Tỉnh
bị thực dân Pháp gần nuốt hết. Thuở sơ
sinh ông vốn tên là Huẩn (chữ Huẩn này chúng tôi ghi
đúng theo tài liệu của ông Đặng Công Thắng,
thứ nam của cụ Đặng Thúc Liêng một bậc
tiên phong trong làng báo Sài G̣n, tạp chí Phổ Thông số 31).
Từ năm 30 tuổi đến sau ông mới lấy tên
Đặng Thúc Liêng tự Mộng Liên hiệu Trúc Am
biệt hiệu Lục hà Tẩu.
Ông là con cụ án sát Đặng Văn Duy,
người tỉnh Gia Định, ḍng dơi họ
Đặng này đă từ lâu có uy tín lớn nơi vùng 18
thôn vườn trầu ở miệt Củ Chi Hóc Môn (nay là
Ấp Tân Phú Trung thộc tỉnh B́nh Dương).
Thân sinh ông trong cơn quốc biến cũng
đă từng hết hoạt động chống xâm
lăng, khi ông chào đời mang tên Đặng Văn Huẩn
thân sinh ông rất kỳ vọng nơi ông, nên đào
luyện cho ông một căn bản học vấn nặng
về thực dụng hơn hủ văn. Ít lâu thân
phụ ông mất tại B́nh Thuận ông cùng gia quyến
đưa linh cữu về an táng nơi mộ phần quê
nhà ở làng Tân Phú Trung Gia Định.
Năm Bính Tuất 1886, ông 19 tuổi chí khí
đă khác thường, chịu ảnh hưởng của
các bậc nghĩa liệt chống xâm lăng, ông cũng
rắp tâm vẫy vùng cứu quốc, ông sinh v́ đại
nghĩa, nhất là được gần gũi với hai
người con của cụ Phan Thanh Giản và Phan tôn và
Phan Lưu ḷng ông càng cả quyết dấn thân báo quốc.
Hai người con của cụ Phan thấy
ông có chí khí thương mến dạy bảo thêm cho ông.
Được hấp thụ tinh hoa các pho sách quí của
cụ Phan Thanh Giản, khi xưa mang từ Trung Quốc
về, kiến thức ông càng thêm uyên bác. Tâm chí kiên trung
hiệp với sở học lỗi lạc ông giao tiếp
và đă được các sĩ phu trọng vọng.
Chẳng những uyên thâm về văn học
ông c̣n làu thông y học tinh chuyên dịch lư, do đó ông sinh
nhai với nghề thầy thuốc đồng thời
cũng dùng khoa lư số để kết nạp anh tài
khắp nơi. Bấy giờ vua Đồng Khánh triệu
dụng hai con cụ Phan về kinh nhận chức Phan Tân
đưa Đặng Thúc Liêng theo. Ít lâu ông cùng với Phan
Tân phụng mạng sang Hương Cảng mở trụ
sở mậu dịch với nước Trung Hoa ông
được dịp xuất ngoại học hỏi thêm
ḷng càng phấn chấn. Chính ông đưa đề
nghị xin triều đ́nh tuyển thanh niên xuất
ngoại du học hấp thụ khoa học tây
phương và rèn luyện sinh ngữ Anh. Nhưng
đề nghị và kế hoạch của ông bị
xếp lại. V́ t́nh thế biến chuyển, thực dân
Pháp chỉ tạm thi hành chính sách ngu dân, nên lúc nào cũng
cố t́nh bóp nghẹt mọi kế hoạch lợi cho
người Việt.
Liệu chừng không làm ǵ được theo
chí ḿnh, Đặng Thúc Liêng trở về Gia Định
ngồi chẩn mạch cho thân chủ một tiệm
thuốc Bắc, do bạn thân ông là một người Tàu
sáng lập. Ông nói tiếng Quảng Đông không khác ǵ
người Trung Hoa chính tông nên rất được
giới Hoa Kiều mến chuộng. Há chỉ an phận
sống như thế thôi sao? Nặng ḷng ái quốc ông
vẫn t́m các sĩ phu có tài mà giao du, để liệu
cơ hội giúp nước. Ông hằng tiếp xúc với
các cụ Trương Vĩnh Kư, Trương Minh Kư,
Diệp Văn Cương, nhưng thâm tâm không dám mở
lời ǵ với các cụ ấy.
Giữa lúc ông băn khoăn t́m
đường, bỗng có viên chức Pháp cao cấp tên là
Landes đến nhờ ông dạy chữ Hán, do sự
giới thiệu của Trương Vĩnh kư, ông từ
chối đôi ba phen, rồi lại vẫn phải nể
lời Trương Vĩnh Kư mà tạm làm thầy dạy
công chức Pháp, nào là Landes, Mast, toàn nhân viên cao cấp.
Tuy nhiên ông vẫn ái ngại, nên chẳng bao
lâu ông không nhận dạy người Pháp nào nữa. Ông
sống hẳn với nghề thầy thuốc, chuyên tâm
đọc thêm các sách tân văn học. Khi tiếp xúc
với Trần Chánh Chiếu, ông mừng đă gặp tri
kỷ, cùng nhau ngầm hoạt động cho phong trào
Đông Du và Duy Tân.
Năm 1909 ông bị bắt một
lượt với Trần Chánh Chiếu và một số
người bị t́nh nghi gần 40 người, tống
giam trong khám đường ở tỉnh lỵ Mỹ Tho.
Trong khám ông cảm tác bài thơ: "Chim lồng cá
chậu"
"Nhằm lồng như nội chậu
như sông
Chim cá lo chi chốn chậu lồng
Nhảy nhót ba ngày đường một
khoáng
Múa men gang tấc thể trời không
Nào phương bó buộc tay kinh ngạc
Có thể khoa khoang cách hội hồng
Vật đủ tánh linh trên máy tạo
Để lồng nuôi phụng, chậu nuôi
rồng."
Sau 4 tháng giam cầm ông được phóng
thích do sự can thiệp của hai công chức cao cấp
Pháp là Landes và Mast có học với ông trước kia.
Ra tù ông vẫn cùng Trần Chánh Chiếu
tiếp tục dấn bước trên con đường
đă vạch. Nhưng tạm gác chính trị qua một bên,
ông và Gilbert Chiếu chuyên chú về mặt kinh tài. Hoạt
động ráo riết không bao lâu "Minh Tân công nghệ"
được thành lập, ấy là một công ty kinh doanh
công thương kiểu mẫu đầu tiên đặt
trụ sở tại căn phố đường Charner.
Sản phẩm được hoan nghênh nhất của Công
ti là xà bông Can Can hiệu con vịt.
Đặng Thúc Liêng lại toan lập một
xưởng chế tạo diêm quẹt tại tỉnh
Mỹ Tho, kế hoạch đang tiến hành th́ ông bị
các tay tư bản - ngoại kiều âm mưu phá quấy.
Ông không nản chí, dù không mở mang được
những cơ sở lớn, ông cũng đă hợp
sức với các đồng chí gây dựng nên khá nhiều
xí nghiệp ngầm giúp cho phong trào Đông Du và Duy Tân
được những số tiền to, công đóng góp
của ông cho cách mạng thật không nhỏ.
Chẳng những đối phó với các
thế lực ngoại kiều trong việc tranh
thương, ông cùng Trần Chánh Chiếu lại c̣n
chống tránh quyết liệt với đám gia nô vong
bản cơ đốc phủ Trần Bá Thọ, con
Tổng Đốc Lọc - trùm xám Cái Bè, nguyên khi ông về
lập nghiệp nơi quê vợ ở tại làng Tân Quí
Đông, tỉnh Sa Đéc gặp nhằm lúc Than Bá Thọ
dời về làm tri phủ Tân B́nh Sa Đéc. Đốc
phủ Thọ hung bạo giống tính cha, lại hoang dâm,
làm nhiều điều tồi bại. Đặng Thúc Liêng
th́ ngay thẳng đạo đức. Hai cá tính trái
ngược nhau, lại ở gần nhau trong một tỉnh,
thế bất tương dung. Đôi bên gườm nhau,
chỉ chờ cơ hội hạ nhau. Nhất là
đốc phủ Thọ đă sẵn ác cảm với
Trần Chánh Chiếu và Đặng Thúc Liêng, cứ bực
xem Đặng Thúc Liêng như cái gai trong con mắt gă, không
sao chịu được, nhưng muốn nhổ đi
lại không phải dễ, v́ họ Đặng lúc ấy
sẵn có hai tay gọi là Landes và Mat luôn luôn nhớ nghĩa
sư đệ mà che chở cho.
Theo tài liệu của ông Đặng Công
Thắng trong tạp chí Phổ Thông số 31 ngày 15-4-1960:
"Ngày nọ, nghe tên Đốc phủ Thọ
cưỡng đoạt vợ người giữa
tiệc cưới ở làng Tân Dương, tức
khắc Đặng Thúc Liêng đề nghị với tham
biện Mast gởi công điện về phủ Thống
Đốc Nam Kỳ mời một Thanh Tra Pháp xuống ḍ
xét sự bỉ ổi của Phủ Thọ. Vừa
hỏi xong khẩu cung của Trần Bá Thọ, thanh tra
liền hạ lịnh ngưng chức và giam Thọ như
một tên tướng cướp hèn mạt. Rồi
giải Thọ về Sài G̣n, giam vài tháng rồi cách chức
luôn. Thân sinh của Thọ là Tổng Đốc Lộc
kể công trạng đă giúp Pháp để chuộc tội
cho con, mà chẳng được, lư do bên phe của tham
biện Mast dân chủ xă hội đă phúc tŕnh và yêu cầu
trên khử bọn sâu mọt để trấn tỉnh nhân
tâm theo lời đề nghị của Đặng Thúc
Liêng.
Ít năm sau, Thọ phát điên v́ thất chí,
rồi ngày nọ hắn lấy súng lục tự tử
trong biệt thự ở quận lỵ Cái Bè tỉnh
Mỹ Tho.
Xem việc hạ Trần Bá Thọ,
đủ thấy can trường khí phách của cụ
Đặng Thúc Liêng, phải biết rằng thế
lực của cha con Tổng Đốc Lộc vào thuở
ấy ai mà chẳng khiếp đảm! Thế nhưng
Trần Chánh Chiếu đă gọi Đốc Phủ
Thọ là "Phước Tân" và Đặng Thúc Liêng
đă can trường giao đấu với đám hùm xám
ấy, bất chấp mọi thù oán, mọi tai họa có
thể xảy ra, kể cũng đáng khâm phục.
Huống chi "Sát nhất miền cứu vạn
thử", ân đức ấy đối với dân chúng
tưởng cũng chẳng phải là nhỏ.
Con người cụ Đặng Thúc Liêng có
khí phách, có thừa tâm lực, nên đă làm nổi những
việc khó ai làm được.
Khoảng năm 1910, cụ Đặng Thúc
Liêng mở một hiệu thuốc Bắc ở
đầu cầu sắt làng Vĩnh Phước thành
phố Sa Đéc mang bảng hiệu "Phước
hưng đông". Chính trong thời gian ẩn cư Sa
Đéc, cụ lại liên tâm đến việc phát
triển ngành ca kịch sân khấu. Cụ hiệp với
các bạn đồng điệu xây cất một rạp
hát ở làng Vĩnh Phước, rồi lo chấn
chỉnh nghệ thuật hát bội đồng thời
đưa ra sáng kiến áp dụng nghệ thuật dân ca mới
trên sân khấu gọi là hát "cải lương"
dần dần lan rộng và phát triển thêm lên măi cho
đến ngày nay.
Do sự khởi xướng của cụ
Đặng Thúc Liêng, kết quả là ông André Nguyễn
Văn Thân bắt chước lối cải lương
ấy trong gánh hát xiếc của ông lập ra ít năm sau
tại thành phố Sa Đéc. Rồi đó, nối đuôi
là các gánh hát của Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, Văn
hí ban, Huỳnh Kỳ v.v... Và bởi có thành tích về
nghệ thuật ca kịch, nên khoảng năm 1918 cụ
và một số đông văn nghệ sĩ,
được phủ toàn quyền mời viết
tuồng hát cổ động quốc trái. Không từ
chối được cụ và Nguyễn Viên Kiều,
Hồ Biểu Chánh ???
Bấy giờ trong giới phong lưu, tài
tử truyền nhau một bài ca trù bỡn cợt:
Họ đồn Đặng Thúc Liêng chơi
quá lố
Có hay không? Giả bộ đó mà thôi
Gẫm bao lâu sống sót trên đời?
Nhơn hóa dại, chơi đi kẻo
uổng
Nhưng trách nhiệm chớ nên bỏ
luống
Đức tài rèn đem cống hiến nhân
dân
Làm sao cũng giỏi tinh thần
Có giá trị ăn mền mới giỏi
Bài ca trù truyền miệng trên đây vừa
biện hộ lại vừa nhắc khéo cụ
Đặng Thúc Liêng chớ quên đi nhiệm vụ
thuở nào, chớ vùi thân trong cuộc vui chơi sa
đọa mà bỏ mất phong độ đáng yêu kính
thuở dấn thân cứu quốc.
Cụ Đặng Thúc Liêng, há đành tâm làm
một thầy tuồng trong gánh hát Bầu Rô kể như
chấm dứt cuộc đời chính trị rồi sao?
Nếu thế chắc chúng tôi không dám liệt tên cụ vào
hàng ngũ chí sĩ và chắc chúng tôi cũng không cần
viết nhiều về cụ. Không, cụ Đặng Thúc
Liêng không hẳn nỗi tệ ôm chân thực dân. Chẳng
qua thời thế bất ổn cụ tạm náu ḿnh
một lúc thế thôi mà cách náu ḿnh đắc sách nhất là
cụ giả ngu giả ngốc. Cần danh ư: Cụ có
cần chi phải ôm chân thực dân để vinh thân
phỉ gia. Cứ cái tài y dược của cụ vẫn
đủ xây cất nhà gạch nhà lầu. Cụ vẫn
thường khiêm tốn tỏ ra không màng danh lợi th́ câu
chuyện theo gánh Bầu Rô rơ là chuyện làm tầm phào
để che mắt thực dân chứ không phải cụ
phản bội quốc dân không đành ḷng nào bán rẻ
lương tâm khí tiết.
Chỉ v́ t́nh thế lúc ấy không hoạt
động ǵ cho cách mạng được nữa lại
đang bị theo dơi khủng bố nên cụ phải
giả mù sa mưa trong một lúc, nhất là khi Trần
Chánh Chiếu mất rồi, công ty Minh Tân và các xí nghiệp
khác đă dần dần bị khánh tận. Cụ
Đặng Thúc Liêng cảm thấy buồn khổ trong t́nh
trạng cô lập. Cụ giải khuây qua giọng hát
tiếng đàn đă rơ tâm sự của cụ biết bao
sầu năo. Ngoài việc soạn tuồng cụ c̣n viết
trên đàn ngôn luận cây bút của cụ vẫn là cây bút
sóng gió.
Trước khi cụ đă từng viết
ở Gia Định báo, Nông Cổ Mín Đàm, Nam Trung
nhựt báo, Lục Tỉnh Tân văn, sau này cụ viết
ở các báo Đồng Tháp thời báo, Thần Chung
(của Diệp Văn Kỳ). Trong một loạt báo
đăng vào "N.C.M.Đ" cụ đă phát huy tân
văn hóa qua sự điều ḥa Khổng học với
??? Cấp Tiến đề cao trong các tác phẩm của
Âu Tây, do các học tṛ Trung Hoa phiên dịch ra Hán văn, mà
cụ thần thái được đem truyền bá ra.
Cụ lại lần lượt viết thiên hồi kư,
tŕnh bày về cuộc bắt đàm thảo luận
giữa cụ với các văn hào cách mạng Trung Hoa
như Khương Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tân
Văn, Hồ Hán Dân và cộng sự viên của
Thường Vụ ấn thư quán ở Thượng
Hải.
Có thể nói Đặng Thúc Liêng đă đem
tâm huyết, tân học hỗ trợ cho phong trào Duy Tân
ở trong Nam phổ biến đắc lực hơn
hết, và về mặt kinh tài, để giúp đỡ
phong trào Đông Du, chính vụ và các cụ Nguyễn An
Khương, Trần Chánh Chiếu cũng đứng
đầu ???
Nếu muốn cầu an, cụ cũng có
thừa điều kiện để an nhàn, v́ tại Sa
Đéc (quê vợ) của cụ có qui mô đủ
để cụ sống sung túc suốt đời nhưng
tiếng gọi của hồn nước, tiếng nói
của lương tâm và ḷng hăng say tranh đấu, không
để cho cụ sống một cuộc đời tiêu
ma chí khí. Cho nên, cụ đă lên đường và hằng
dấn thân hoạt động cho văn học, cho
tiền đề dân tộc. Cụ phó thác tiệm
thuốc Phước Hưng Đông và sản nghiệp
ở Sa Đéc cho người vợ hiền là Nguyễn
Thị Nhơn trông nom khăn gói theo ??? gió đưa.
Cụ trở lên Sài G̣n gia nhập làng báo. Ngoài
tên tự là Mộng Liêm Trúc Am mà từng kư dưới các
bài báo bây giờ cụ lại có bút hiệu là Lục hà
tẩu (ông lăo quê mùa đă rong chơi khắp non sông) trên các
báo Công Luận, Trung Lập. Khoảng năm 1926 ở
Bắc Việt bị nạn lụt đê vỡ dân chúng
đói khổ. Trong Nam xót nghĩa đồng bào t́nh dân
tộc, cụ Đặng Thúc Liêng cũng là người
quyên góp nhiều nhất trong cuộc kêu gọi lạc quyên
cứu trợ. Chính cụ lănh một phần lớn đi
quyên tiền cứu tế và thảo bài "Quốc văn
hóa" đi diễn thuyết ở nhiều nơi. Từ
năm 1930 phong trào quật khởi của thanh niên Việt
Nam càng tăng gia. Con cụ là Đặng Công Thắng cùng
sát cánh với Nguyễn An Ninh trên tờ "Cloche Fêlée".
Xưa kia cụ và Nguyễn An Khương vốn là
đồng chí rồi, đến giai đoạn tre tàn
măng mọc, con cụ và Nguyễn An Ninh cũng
đứng chung trên một chiến tuyến, chống
thực dân c̣n ǵ đẹp cho bằng. Nhân dân trẻ
nổi lên hoạt động ḷng vẫn thấy phấn
khởi và tràn đầy nhiệt huyết, vẫn chưa
chịu ngồi yên. Năm 1931, cụ xin phép
được xuất bản tờ "Việt dân
báo", có cơ quan ngôn luận trong tay, cụ và con Đinh
Công Thắng chẳng ngớt công kích Đảng lập
hiến của lănh tụ thân Pháp là Bùi Quang Chiêu.
Về phương diện xă hội khác,
cụ đă dày công sáng lập "VN Y Dược
Hội" trong năm 1934 nhằm mục đích bảo
vệ Đông y dược sĩ càng ngày càng bị Tây y chèn
ép. Cụ sáng lập Hội y dược th́ c̣n ǵ bằng
tên tuổi cụ về phương diện đông y lúc
ấy ai mà không kính nể uy tín cụ, cụ bảo đảm
cơ sở phát triển mạnh. Năm 1944, cụ lại
hiệp với Lê Phát Vinh xuất bản tuần báo
"Đông Phong", nhưng bấy giờ t́nh h́nh
đất nước đă gay go đến cực
điểm. Quân Đội Nhật đă có mặt ở
Đông Dương, người Nhật toan nắm lấy
một số đông chính khách và phần tử cách mạng
VN. để làm hậu thuẫn cho Nhật về sau.
Biết rơ kế hoạch ấy, Đặng Thúc Liêng dè
dặt không làm con cờ của ngoại bang trên cán cờ
quôc tế. Cụ giă bệnh để tránh tṛ lợi
dụng ấy. Đến cuối năm 1945, để
tránh nạn bom tàn khóc của quân đội Đồng Minh
ném xuống Sài G̣n - Chợ Lớn, cụ đưa gia
đ́nh về quê ngoại làng Tân Quí Đông Châu Thành Sa
Đéc. Tại nhà cụ ở Sa Đéc, cụ có hai câu đối
liễu bạch chí:
1/ - "Vạn trùng sơn hăi tằng vi khách
Thập
bát phù viên biệt hữu gia"
(Muôn trùng
non nước từng làm khách,
Mười
tám thôn vườn trầu (Củ Chi, Hóc Môn) riêng có cảnh
nhà)
2/ - "Thập tam kinh văn tự lại
xứ
Ngũ
đại châu sự thôi phiến tâm".
(Mười
bài kinh văn (y khoa) từng học bởi,
Năm châu
thời sự ở trong ḷng).
Lúc về
quê trong thời kỳ đất nước biến
chuyển mạnh với mớ tuổi cao, cụ
Đặng Thúc Liêng đă mỏi ṃn sức khỏe, sang
năm 1945, cụ cảnh giác hơn nữa. Đến ngày
25-8-45, khoảng giữa Ngọ cụ tạ thế
thọ 76 tuổi, an táng tại làng Tân Quí Đông Sa Đéc.
Đời cụ là một tấm gương hoạt
động cần học. Về chính trị với tấc
ḷng nhiệt thành yêu nước với bao thành tích đă nêu
cụ xứng đáng vào hàng ngũ chí sĩ. Về văn
hóa, cụ nghiễm nhiên là một kư giả tiền
bối, một học giả tiền phong trong sự
vận động phát huy tân văn hóa. Cụ c̣n để
lại đời khá nhiều tác phẩm giá trị về
văn hóa, y học và kinh tế:
1/ - Tâm quyển giải
2/ - Tâm
bổn mê thương
3/ -
Quốc văn hồn
4/ - Nhân ḥa
thiền hội
5/ - Canh
hoang biến pháp
6/ -
Chủng mạnh tân biên
7/ - Trù:
Diễn thuế dĩ bội nông bổn
8/ - Tư
lưỡng học sĩ phục nhân tâm
9/ - Cao
hoàng đế diễn ca
10/ -
Trương Vĩnh Kư hành Trạng
11/ -
Lập hội Thuyết.
12/ - Quai
giảo nghị
13/ - Hán
văn thi tập
14/ -
Việt âm thi tập
15/ - Trí y
tiện dụng.
MẠNH TỰ TRƯƠNG DUY TOẢN
(Lược tóm bài "Hồi kư của
Ngọa Long" từ 1927 đến 1937, 10 năm làng báo
Sài G̣n, đăng trên Đuốc Nhà Nam từ 22/9/1969)
Cụ Toản cộng tác với tờ
"Trung Lập" song song với tờ Impartial de Henry de
Lachevrotière chủ trương, làm chủ bút số 2,
chủ bút số 1 là Nguyễn Phú Khai, nguyên là Chủ
nhiệm "La Tribune indigène" giỏi Pháp văn mà không
thạo tiếng Việt, nên thường viết bài
bằng Pháp văn rồi cụ Toản dịch ra. Tờ
báo này bán chạy v́ toàn lo chuyện thể thao và đăng
truyện "Cái nhà bí mật" của Phú Đức,
cụ là "Thanh niên tài hoa của đất Long Hồ,
Hán học và Tây học đầy bầu lưng gió túi
trăng và cụ đă gia nhập phong trào Chiêu Nam Lầu do
Nguyễn An Khương lănh đạo". Có người
cho rằng phong trào Chiêu Nam Lầu ở Sài G̣n là chi nhánh
của phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội,
là một phong trào Duy Tân nhằm mục đích đưa
thanh niên thiện chí của ta xuất ngoại. Đặc
biệt cụ Mạnh Tự ngày c̣n là một thanh niên
đồng chí cách mạng đă từng theo sát Kỳ
Ngoại Hầu Cường Để ra nước ngoài.
Trở về Sài G̣n, sau ngày phong trào bị tan
ră, cụ Mạnh Tự trốn tránh măi cho đến ngày
Phan Bội Châu bị đưa về an trí ở Bến
Ngự, t́nh h́nh lắng dịu, cụ mới dám ra mắt
dưới sự che chở của nhà cách mạng có
thế lực như cụ G. Chiếu và nhân vật
được nhà cầm quyền Pháp nể nang là
Nguyễn Văn Của.
Thật sự ngay từ năm 1919,
người ta đă thấy cụ có mặt trong bộ
biên tập "Thời báo" do Hồ Văn Lang, tức
Cường Sĩ Thất Lang làm chủ bút tờ này
cũng là một cơ quan ngôn luận hô hào mạnh mẽ
cho phong trào tẩy chay các chú năm 1919.
Một nhân vật nồng cốt của phong
trào tẩy chay là cụ Huỳnh Công Thanh, người VN
đầu tiên lập tiệm cà phê để tranh
thương với Huê Kiều tại Sài G̣n, đă ca
ngợi tờ Thời Báo: "C̣n trời, c̣n nước,
c̣n non, c̣n tờ Thời Báo th́ c̣n tẩy chay", sau đó,
tờ này bị Tây đóng cửa và cụ Mạnh Tự
sang làm cho tờ "Trung Lập", là tờ chỉ nói
về thể thao, không hưởng ứng phong trào cổ
động dùng đồ nội hóa nên có dư luận
trách cụ là "Mạnh Tự điên". Sau đó,
cụ làm chủ báo "Sài Thành" với những
người cộng tác: Bút Trà, Bùi Thế Mỹ v.v...
sống cho đến năm 1935.
Năm 1936, cụ chủ trương tờ
"Dân Quyền" lúc đó phong trào Đông Dương
đại hội. Tờ này theo sát phong trào bày tỏ
nguyện vọng hoặc chỉ trích phê phán nên bị
đóng cửa, mặc dầu tờ báo này đứng tên
một người Pháp: Cendsieux. Sau đó, cụ thuyết
phục Cendsieux đứng ra xin tái bản dựa vào
luật báo chí 1881. Tờ báo ra được một
số, bị tịch thu và Cendsieux bị truy tố ra Ṭa
Tiêu h́nh.
"Thực là điều không ai dè cụ
Mạnh Tự lại được làm ông chủ bút duy
nhứt của tờ báo xuất bản tự do, mặc
dầu chỉ sống có một ngày."
1956 - 1957, cụ Mạnh Tự
được ông Huyện N. đưa về tại
một nhà vườn bên Thanh Đa an dưỡng và
chết cuối năm 1957, an táng tại Vĩnh Long.
Theo Ngọc Long, trước 1917, tất
cả tuần báo, nhật báo đều do người Pháp
đứng tên, trừ Trương Vĩnh Kư và Diệp
Văn Cương ra tờ "Phan yêu báo". Theo luật
báo chí 20/7/1881, chỉ cần làm tờ khai trước 24
giờ là hợp pháp, nhưng ngày 30/12/1898, Phủ toàn
quyền qui định muốn ra báo quốc ngữ phải
xin phép, đáng lẽ không áp dụng cho Nam Kỳ, nhưng
thực tế vẫn cho cả Đông Dương. Nhân
dịp tờ Công Luận ở Madagascar đă cho xuất
bản theo luật 1881, bị tịch thâu truy tố,
đưa ra Ṭa, chống án tận Paris và Ṭa phá án bác bỏ
án của Ṭa Madagascar, báo được ra lại. Anh em
trong hội "Amicale des Journalistes annamites de Cochinchine"
dựa vào tiền lệ trên để nói với cụ
Mạnh Tự thuyết phục Cendsieux đứng ra xin
tái bản gà chịu in báo. Tờ báo vẫn bị tịch
thâu, đưa ra ṭa, Cendsieux được trắng án nhưng
báo không t
iếp tục ra được.
TRƯƠNG DUY TOẢN
Lược tóm bài của Nguyễn Bá Thế
trong "Tinh Hoa ṇi Việt, chiến sĩ trên
đường Duy Tân cứu quốc". Đuốc Nhà
Nam 8-6-1971. Sài G̣n.
Bí thư của Cường Để,
người khăng khăng một tiết: "Gan
sắt khư khư, súng đạn tàn bạo khó đem
rúng ép". Trương Duy Toản, Đỗ Văn Y, Lâm
Tỷ và ban thanh niên miền Nam được Cường
Để tín nhiệm.
Trương Duy Toản sinh năm 1885, lúc
lớn lên đọc các áng văn Duy Tân của các chí sĩ
miền Bắc, lén lút phổ biến trong Nam, nhất là bài
khuyên thanh niên du học của Phan Bội Châu. Năm 1912,
hưởng ứng phong trào Đông Du, cụ bí mật ra
nước ngoài. Đầu tiên sang Tàu rồi qua Nhật
gia nhập nhóm học sinh lưu vong. Cụ thông thạo
cả Pháp văn và Hán văn lúc ở Sài G̣n đă có chân
trong việc thành lập "Chiêu Nam Lầu" của
Nguyễn An Khương. Cụ cùng Nguyễn Hán Vĩnh,
Đỗ Văn Y, Lâm Tỷ, Lâm Cầu hoạt
động tại Hương Cảng hỗ trợ
việc giao dịch giữa các Đảng và cách mạng
trong và ngoài nước.
Năm 1913, Cường Để kín đáo
về nước, bị kẹt, phải nhờ bọn
Lâm Tỷ, Lâm Cầu quyên tiền được hai ngàn
đồng thời đó mới thoát, rồi Cường
Để đi Âu Châu có 3 người theo. Toản giỏi
tiếng Pháp, Y biết tiếng Đức, Lâm Tỷ
thạo tiếng Anh. Khởi hành từ Tân Gia Ba định
đi Anh nhưng đến Pháp lại đổi ư.
Cường Để ủy nhiệm cho Trương Duy
Toản tiếp xúc với Phan Châu Trinh ở Pháp, nhưng
lúc đó Phan Châu Trinh không có chân trong Đảng phái nào,
trước sau mọi sự làm theo ư ḿnh, khi Trương
Duy Toản gặp cụ đề nghị hợp tác th́
Phan Châu Trinh trả lời: Anh là tay sai của Pháp sai
đến ḍ xét tôi phải không? Anh đừng ḥng lừa được
tôi, hăy cút đi cho mau".
Trương Duy Toản minh oan, Phan Châu Trinh
vẫn không chịu, sợ mắc mưu Pháp hoặc v́
không tin Cường Để, khi ra khỏi nhà Phan Châu
Trinh, lại bị Tây bắt v́ nghi liên lạc với Phan
Châu Trinh.
Trương Duy Toản bị giải về
Sài G̣n, ngồi tù đến năm 1917 mới
được thả ra. Biết ḿnh c̣n bị theo dơi, nên
ông về ẩn dật trong một căn phố nhỏ
ở đường Mamiger nay là Mạc Đỉnh Chi. Có
vợ, con trai duy nhất 10 tuổi: Trương Duy Khánh (kư
giả Thiệu Vơ), rồi người ta thấy ông theo
Cao Đài, phái Tiên Thiên.
Đến năm 1922, xem chừng Tây bớt
theo dơi ông, ông xoay ra hoạt động văn hóa không
thiết ǵ đến chính trị nữa và Tây cũng
tạm để ông yên.
Năm 1923, ông nhận làm chủ bút tờ
"Trung Lập". Bộ biên tập gồm: Vân Phi,
Trần Văn Chính, giữ mục Thiên hạ đồn
rất ăn khách và Phú Đức đăng truyện
"Cái nhà bí mật".
1926 làm chủ bút tờ "Sài Thành", tuy có
tự do hơn lúc làm "Trung Lập" nhưng vẫn
bị kiểm duyệt, cắt bỏ... tâm sự của
ông đă được Thượng Tân Thị Phan
Quốc Quang cảm thông trong một bài thơ xuân.
Ông Trương Duy Toản báo Sài Thành
Vùng vẫy theo đời, buổi cạnh
tranh
Bút mực đă khô, gan lại héo
T́nh người nghĩ lại bắt
buồn tanh
Năm 1936, tờ Sài Thành bị đóng
cửa - ông chủ trương tờ Dân Quyền. Như
vậy ông tham gia ba phong trào đắc ư.
1/ - Phong trào tẩy chay Hoa Kiều hồi
năm 1919, cộng tác với "Thời Báo" của
Hồ Văn Lang.
2/ - Phong trào tẩy chay Chà, Bombay hồi làm tờ
"Trung Lập", nhân vụ tên thương gia Chà ở
đường Vannier (Ngô Đức Kế) làm nhục
một đàn bà Việt là khách hàng, vợ một công
chức, bằng cách đụng cán dù trên đầu;
tờ "Đông Pháp thời báo" hưởng ứng
làm mạnh hơn đề xướng thành phong trào
tẩy chay Chà-Bombay, hô hào dùng đồ nội hóa.
3/ - Phong trào dân quyền lúc làm tờ "Dân
Quyền" đẩy mạnh phong trào Đông
Dương đại hội cùng với tờ
"Việt Nam" của Nguyễn Phan Long...
Sau vụ làm báo với Cendsieux, ông rút lui
khỏi văn đàn và theo phái Tiên Thiên Cao Đào do Ngô
Văn Chiêu t́m ra.
Ông về ở tại Gia Định (khu Hàng
Xanh) sau dời về Long Hồ (Vĩnh Long) và mất
tại đó. V́ ông tu theo giáo phái Cao Đài nên
được liệm ngồi trong một cỗ quan tài
h́nh bát giác dựng đứng.
Tâm sự ông được bộc lộ qua
bài thơ Vịnh tai bèo do ông làm:
Đầm rộng ao sâu dốc tánh trần
Bèn thả bạn tác với hồng lâu
(một loại thủy quái)
Sớm bùn nhơ bẩn không chân rễ
Nh́n nước bập b́nh luống khổ
thân
Tan hợp nghĩ thôi càng lắm nỗi
Dọc ngang hỏi thử đă bao lần
Trong tâm lóng lánh ḱa chi đó
Giọt máu trời ban chút đặc ân.
ANH NHÂN TÂN CHÂU Ông NGUYỄN CHÁNH SẮT (1809 -
1947)
Một nhà văn tiền phong của miền
Nam - Việt Long Giang - Phổ thông tạp chí số 142 -
15-1-1965 Sài G̣n.
1 - THÂN THẾ: Cụ sanh năm 1869 tại
Vĩnh An Hà, xă Long Phú (Tân Châu) con ông Nguyễn Văn Tài và bà
(không rơ tên) xuất thân trong một gia đ́nh bần nông, v́
đó, song thân cụ mới kư thác cụ cho ông Nguyễn
Văn Bửu và bà Đặng Thị Nghiêm, người cùng
xă nuôi làm dưỡng tử. Thuở nhỏ cụ học
với cụ Tú tài Trần Hữu Thường. Bấy
giờ, nhằm thời kỳ Pháp thuộc dưỡng
phụ cụ nhận thấy đeo đuổi theo Hán
học không hạp thời, nên cho cụ học sang qua
Việt ngữ và Pháp văn tại trường Tiểu
học Châu Đốc. Sau khi đỗ văn bằng
sơ học Pháp Việt (Certificat d'Etudes primaisus francos
indigènes) th́ cụ cũng vừa đúng tuổi trưởng
thành (thuở đó có nhiều anh trên 20 tuổi, hoặc có
vợ con mà vẫn c̣n học lớp nhất). Dưỡng
phụ cụ, v́ muốn có cháu bồng bế cho vui nhà vui cửa,
nên bắt buộc cụ thôi học để lo đôi
bạn cho cụ là bà Văng Thị Yên, người
đồng thôn với cụ. Khi lập gia thất xong, th́
lần lượt dưỡng phụ và dưỡng
mẫu cụ đều qua đời. Sau hai kỳ ma chay,
cặp vợ chồng son trẻ này lâm vào cảnh túng
bấn. Đă vậy ông bà lại có một mụn con. Bà
phải đi mua bưng bán bộ nuôi chồng, c̣n cụ
trông nom nhà cửa và chăn con. Tuy nhiên rất hiếu học,
lúc nào cụ cũng ôn nhuần lại Hán văn, nhất là
Pháp văn và Việt ngữ.
2 - SỰ GẶP GỠ GIỮA ĐÔI BẠN
PHÁP VIỆT:
Đồng thời có ông quan tư De Combert
nhận thấy Tân Châu là một trung tâm tằm tơ, do
đó ông bỏ vốn lập cơ sở sấy kén,
tục gọi "ḷ sấy" chính là phần đất
của sở tằm tang Tân Châu hiện nay.
Tỉnh thoảng ông đi dạo vào con kinh
lịch sử "Vĩnh an Ḥa", nhiều lần qua
lại, ông để ư thấy một vị thơ sinh
vừa đưa con vừa đọc sách. Ông ṭ ṃ dừng
chơn làm quen với cụ Nguyễn. Khi được
biết người bạn mới đương rèn luyện
Pháp văn, nên ông rất hài ḷng và khen ngợi vô cùng. Từ
đó những lúc nhàn rỗi ông thường lai văng nơi
đây để giao thiệp với kẻ bần sĩ
đáng mến này; cùng lúc ông biếu sách, khuyến khích và
chỉ bảo thêm. T́nh đôi bạn Pháp Việt càng ngày
càng khắn khít.
Chẳng bao lâu công việc làm ăn của ông
thất bại, lại cũng đúng lúc nhà cầm
quyền Pháp gọi ông đảm nhiệm một chức
vụ quan trọng ở ngoài Côn Nôn. Nhằm cơ hội
này, ông mời cụ cộng sự với chức thông
ngôn.
Đă có học chữ Tàu, lại vốn thông
minh, nay ra hoang đảo này, cụ được sự
chỉ bảo tận tâm về Hán học của nhà nho làm
cách mạng chống Pháp bị đày ra đây để
trả món nợ thù Tây. Ai dè chính Côn Nôn, dưới trời
nước bao la, là cái ḷ đào tạo cụ thành một
thầm nho, rất có ích cho nền cổ học
nước ta sau này.
Được một thời gian, bất
ngờ ông Combert lâm bạo bịnh, v́ vậy cụ
đưa chủ về Sài G̣n điều trị nhưng
không may ông này từ trần và an táng tại đất Thánh
Tây ở Thủ Đô V.N.
Sau đó cụ trở lại chốn ngàn
năm lưu danh là mồ chôn những nhà ái quốc VN, thu
xếp việc nhà rồi vào đất liền. Bấy
giờ ông bà đă có 4 mặt con, v́ thế sự sanh
sống trong gia đ́nh cụ thật là chật vật.
Để bảo vệ vợ yếu con thơ, khi cụ
giúp việc cho sở Canh Nông, lại làm cho Sở Công Chánh.
Rồi lần lần nhờ sự hoạt động sau
này mà cụ trở thành một nhà văn tiền phong
của miền Nam.
3- HOẠT ĐỘNG VỀ VĂN HÓA
M. Nguyễn Chánh Sắt, né en 1869 à Long Phú (Châu
Đốc, cochinchine s'est signalé surtout par sa grande activité dans
la diffusion de la littérature chinoise traditionelle (traduction en
"quốc ngữ") de nombreuse livres de théâtre classique,
auteur d'un cours de morale "Huấn từ cách ngôn" à l'usage
des écoles élémentaires indigènes. Professeur de caractères chinois, dans
l'enseignement libre, puis dès 1906 consacra entièrement au journalisme de
langue locale (diplôme de) mérite avec mention honorable - Exposition coloniale
de Marseille 1906.
Lors du 4en emprunt national en 1918 Nguyễn Chánh
Sắt alors directeur du journal "Nông cổ mín đàm"
apporta sa collaboration au gouvernent. Il fut des hommes les plus actifs de la
troupe théâtrâles sur la suggestion de M. Albert Sarraut alors gouvernement
général de l'Indochine, organisa des tournées de propagande dans toute
cochinchine en faveur de l'emprunt national.
En 1920, délégué à la Foire de Hanoi, il fit une conférence
économique à l'Hôtel des colonies. En 1921, assenseur à la cour criminelle le
Saigon. En 1933 un incendie ayant détruit plus de 20 paillotes près de
l'ambulance de Tân Châu, il a pu recuellir presque 500 piastres en faveur des
sinistrés, nommé Huyện honoraire en 1936). Đoạn Pháp văn
này trích trong quyển Souverains er Notabilités d'indochine Ed. du
gouvernement général de l'indochine. Ideo Hanoi 1943.
Tạm dịch: Nguyễn Chánh Sắt, sinh
năm 1869 tại Long Phú (Châu Đốc - Nam Kỳ) cụ
nổi danh nhất là sự hoạt động lớn lao
của cụ trong việc truyền bá văn chương
Hán học cổ truyền (dịch ra quốc ngữ
nhiều sách - hát bội), tác giả cuốn luân lư cách ngôn
dùng trong các trường tư thục. Rồi đến
năm 1906, cụ hoàn toàn là nhà viết báo bằng tiếng
bản xứ, cụ được trường
thưởng bằng Danh dự Bao tưởng trong
cuộc triển lăm thuộc địa ở Marseille
năm 1906. Ngoài vụ sổ quốc trái lần thứ 4
năm 1918 lúc bấy giờ cụ hiệp tác với Chánh
phủ Pháp đứng ra lănh Chủ Nhiệm nhật báo
"Nông cổ mín đàm" (lúc làm chủ bút cụ
thường mang bí danh - Bá Nghiêm - Du Nhiên Tử - Vĩnh An
Hà), cụ là một tay hoạt động rất
đắc lực trong Ban hát bội là ban hát do sự
khuyến dụ của A. Sarraut, lúc bấy giờ toàn quyền
Đông Dương, tổ chức những cuộc kinh lư
tuyên truyền ủng hộ về vé số quốc trái
trong toàn xứ Nam Kỳ.
Đến năm 1920, cụ được
cử làm đại diện Hội chợ Hà Nội.
Cụ diễn thuyết về kinh tế ở nhà hàng
thuộc địa. Năm 1921, cụ làm hội thẩm
tại ṭa đại h́nh Sài G̣n. Đến năm 1933,
một trận hỏa hoạn thiêu hủy những tác
phẩm của cụ đă xuất bản trước
kia:
A/ - LOẠI TIỂU THUYẾT:
1 - Gái trả thù cha (trinh thám tiểu thuyết
- 4 quyển)
2 - Tài
mạng tương đố (Tâm lư tiểu thuyết - 2
quyển)
3 -
Nghĩa hiệp kỳ duyên (1 quyển - Tuần báo Nhân
loại có tái đăng)
4 - Ḷng
người nham hiểm (xă hội tiểu thuyết)
5 - Trinh
hiệp lưỡng mỹ (nghĩa hiệp tiểu
thuyết)
B - LOẠI SÁCH DỊCH:
1 - Tam tự kinh
2 -
Huấn tự cách ngôn
3 - Tam
quốc
4 -
Tống nhạc phi
4 - TRỞ VỀ CỐ HƯƠNG
Vào lối năm 1920, để hưởng
thú điền viên, cụ trở về nguyên quán cất
một ngôi nhà ngói, vách gạch, gần đ́nh Long Phú,
thuộc đất công thổ (chính là nền trường
trung học bán công Tân Châu hiện nay). Tuy về cố
hương, nhưng cụ vẫn vừa viết báo,
vừa hoạt động về nông nghiệp và thủy
lợi. Chẳng may trong vụ kinh doanh này xảy cho cụ
một vụ án mạng do bạn bè của cụ gây ra
tại kinh Thần Nông (Tân Châu). Nhờ cụ khéo dàn
xếp nên vụ án đó được ổn thỏa,
mặc dù sống dưới thế hệ của văn
minh Pháp, song cụ vẫn giữ vững nề nếp nho
phong, v́ đó cụ rất đứng đắn trong
lối phục sức, khi ra đường lúc nào cụ
cũng mang quốc phục. Về Tân Châu với tài lẫn
đức, cụ được quan dân kính mến. V́
thế, quí vị trong "Ban Quân Tự" đ́nh Long Phú
đồng công cử cụ làm chức "Hương
Quan". Bài vị cụ hiện c̣n tại Đinh Trung Long
Phú. Ông bà sinh tất cả 9 người con.
1 - Bà Nguyễn Thị Truyện (1)
2 - Cố
Nguyễn Văn Đực
3 - Bà
Nguyễn Thị Sứ
4 - Cố
Nguyễn Thị Kinh
5 - Cố
Nguyễn Thị Điển
6 - Cố
Nguyễn Thị Nga
7 - Cố
Nguyễn Thị Măo
8 - Cố
Nguyễn Thị Nguyệt, tự cô giáo Minh (2)
<<(1) Bà là hiền thê của ông Trần
Thái Nguyên, đốc phủ hồi hưu ở 40
đại lộ Bạch Đằng (Gia Định). Chính
bà thuật lại tiểu sử của cụ cho tôi
viết trong dịp bà về Tân Châu làm mộ cho song thân bà
vào năm 1963.
(2) Chính bà giáo này giúp ông rất nhiều trong
việc viết văn và làm báo, v́ đó khi bà qua đời
??? >>
9 - Cố Nguyễn Chánh Nhân
10 - Bà
Nguyễn Thị Tỵ (dưỡng nữ) hiền thê ông
Phạm Văn Gỉ.
Cụ từ trần vào ngày 18 tháng 4 âm
lịch năm Đinh Hợi (6-6-1947) thọ
được 78 tuổi.
Bà mất ngày 24 tháng 8 âm lịch năm Ất
Dậu (29-9-1945). Phần mộ ông bà hiện nay an táng
tại Sở đất của ông tọa lạc giữ
Long Đức Tự - và ấp Tân Sinh Long An A, xă Long Phú,
tục gọi đường Chùa và cũng là nơi mà cách
nay 25 năm (1939-1984) đă xảy ra vụ dậy giặc
của ông Đạo Tưởng ở Tân Châu.
Cụ Nguyễn khóc con
1 - Xốn xang bứt rứt mấy canh gà
Thương
nhớ vong nhi lụy nhỏ sa
Một
giấc nghỉ ngơi an phận trẻ
Ngàn năm
đau đớn tủi thân già
Bơ
vơ hai cháu đành không mẹ
Hủ
hể ḿnh con nỡ bỏ cha
Tạo hóa
bất nhân theo khuấy măi
Khiến
người cắt ruột tệ chi mà.
2 - Chi mà đau đớn lắm trời ôi!
Cái
nghĩa cha con đă phủi rồi
Tủi
nỗi trẻ thơ sao vắn vỏi
Thương
bầy cháu ngoại chịu mồ côi
Chim đà
mất mẹ buồn ngơ ngác
Tre
phải khóc măng thảm dập dời
Thắt
thẻo ruột tằm ḍ chín khúc
Chi mà
đau đớn lắm trời ơi!
3 - Trời ôi sao nỡ hại người
lành
Cái
nghĩa cha con hạ đứt đành
Băm tám
tuổi xanh sao vắn số
Bảy
mươi đầu bạc ngẩn ngơ h́nh
Gia đ́nh
vẫn tưởng già nương cậy
Thơ
xả hết mong trẻ giúp ḿnh
Sách vở
mấy trương c̣n để đó
Từ
đây huê các phải buồn tanh
4 - Buồn tanh thao thức trót năm canh
Vắng
dạng tai nghe giọng trống thành
Trước
cửa vật dờ hồn núi giă
Bên
tường thỏ thẻ tiếng chim oanh
Ém ḿnh ngâm
vịnh làm khuây dạ
Thấy
cháu ngây thơ phút động t́nh
Bé tí
chắc chiu đau đớn trẻ
Bao dành
độc địa hỡi cao xanh.
5 - Ông xanh bao nở chẳng thương t́nh
Hiếu
nghĩa sao mà lại ghét ganh
Phải
biết ẩn xuân phần vắn số
Đă
tầm Hậu nghệ thuốc trường sinh
Bồi
hồi sáu khắc sầu không xiết
Thổn
thức năm canh nhắc chẳng đành
Nhắc
trẻ biết đâu tầm được thấy
Chỉ
ḿnh quanh quẩn mấy khuôn h́nh.
6 - Mấy khuôn h́nh trẻ vẽ trong nhà
Nh́n
tới di dung giọt đượm sa
Nét
đứng dáng ngồi c̣n phưởng phất
Lời
ăn tiếng nói đă phui pha
Trông vào
trẻ sắt ḷng chua xót
Đoái
lại pḥng van dạ thiết tha
Thương
nhớ ai buồn khó tả ???
Sụt sùi
chan chứa tấm ḷng ta
7 - Ḷng ta khắc khoải trót đêm tṛn
Thổn
thức năm canh mải nhớ con
Thắm
thiết ḷng già nằm chẳng trọn
Mơ màng
dáng trẻ ngủ sao ngon
Xưa c̣n
tin tức trông lóm lóm
Nay
vắng dạng h́nh khóc nỉ non
Ước
gặp Nam Tào ta hỏi thử?
Cớ sao
mạng số lại thon don.
8 - Thon don phận trẻ dễ an nào
Cực
nổi cha già thảm xiết bao
Mẹ
yếu một thân sầu ủ rủ
Con thơ
hai đứa khóc nghêu ngao
Cửa nhà
thiếu kẻ lo săn sóc
Vườn
tược không người giữ trước sau
Uất
ức bên ḷng nằm chẳng tiến
Một
ḿnh trằn trọc trót canh thâu
9 - Trót canh thâu chẳng thấy con ḿnh
Một
giấc ngàn năm đă bặt h́nh
Sao nở
chia phui t́nh cốt nhục
Bao đành
phân rẻ mối thâm t́nh
Ngẩn
ngơ tuổi cháu c̣n suy ấu
Ngan ngán
thân già nổi tử sanh
Cợt
cả một may mà xế bóng
Bớt
thờ hai mục nổi linh đinh
10 - Linh đinh phận trẻ biết đâu
mà
Nơi
trước sau đây dạ xót xa
Ngày tháng
bơ vơ không bỏ mẹ
Sớm
khuya bận bịu có ông bà
Nảo
nùng tiếng dế ḷng ngao ngán
Vắn
vơi hỏi vẻ dạ thiết tha
Đoái
lại cảnh t́nh thêm bát ngát
Xốn
xang bứt rứt mấy canh gà.
TIỂU SỬ CỤ HỒ BIỂU CHÁNH
Tộc danh Hồ Văn Trung (1885 - 1958) (do tác
giả tự thuật)
A - Lúc thiếu niên:
Sanh ngày mùng 1 tháng 10 dương lịcn năm
1885 tại làng B́nh Thành, tỉnh G̣ Công, trong một gia
đ́nh nghèo, nhưng có nội tổ hồi trước
đứng lập làng nên có bản vị Tiền Hiền
thờ trong đ́nh Thần và thân phụ được
tham dự trong ban Hội Tề Hương chánh lần lên
tới chức Hương chủ và Chánh bái.
Từ 8 tới 12 tuổi học nhấp nhem
chữ Nho với thầy giáo dạy trong làng. Đến 13
tuổi, nhờ cha mẹ dời về ở chợ
Giồng ông Huề mới bắt đầu học
quốc ngữ và chữ Pháp tại trường Tống
Vĩnh Lợi rồi xuống trường tỉnh G̣ Công
học tiếp 3 năm thi đậu học bổng.
Được vào trường trung học Mỹ Tho
học 2 năm (1902 và 1903) rồi được lên
trường trung học Chasseloup Laubat ở Sài G̣n học
thêm 2 năm nữa. Cuối năm 1905 thi đậu bằng
Thành Chung gọi là Diplôme de fin d'études.
B - Trong Hoạn trường:
Năm 1906 thi đậu được
cấp bằng làm kư lục ngạch hành chánh Nam phần,
trong 15 năm đầu có tùng sự tại dinh Hiệp Lư,
văn pḥng Thống đốc Nam Kỳ, ṭa bố Bạc
Liêu, Cà Mau, Long Xuyên và Gia Định mỗi chỗ ít
năm.
Năm 1920 đổi về văn pḥng
Thống đốc Nam Kỳ lại.
Cuối năm 1921 thi đậu Tri huyện
nh́ hạng.
Năm 1927, thăng tri phủ tam hạng
được bổ nhiệm chức chủ quận Càn
Long (tỉnh Trà Vinh). Năm 1932 thăng Tri phủ nhứt
hạng đổi làm chủ quận Ô Môn (tỉnh Cần
Thơ) tới cuối năm 1934, đổi xuống
quận Phụng Hiệp, rồi qua năm 1935 xin
đổi về Sài G̣n lănh chức Phó chủ sự Pḥng
Ba, kiểm soát ngân sách các tỉnh và thành phố.
Đến năm 1936, thăng chức
Đốc phủ sứ.
Đến nửa năm này làm việc
đủ 30 năm nên gửi đơn xin hưu trí. Chính
phủ Pháp cho hồi hưu kể từ đầu tháng
giêng năm 1937 nhưng lấy cớ không có người
thay thế, nên cầm ở lại làm việc cho
đến năm 1939, thế giới chiến tranh bùng
nổ lên, chính phủ làm giấy trưng dụng nên
phải ở làm tới mùng một tháng bảy năm 1941
mới được thôi.
Chỉ thong thả được có một
tháng v́ ngày mùng bốn tháng tám năm 1941 bị quan toàn
quyền cấp bằng làm Nghị viện Hội
đồng Liên Bang Đông Dương (con seil Fédéral
Indochinois) rồi ngày 26 tháng đó lại c̣n bị kiêm
chức Nghị viện thành phố Sài G̣n với chức
vụ Phó đốc Lư, coi bộ đời về
người Á Đông nữa.
Cuối năm 1941 hai thành phố Sài G̣n và
Chợ Lớn sáp nhập thành địa phương Sài
G̣n Chợ Lớn cũng bị bắt làm Nghị viện
cho Ban Quản trị và cũng coi bộ đời về
người Á Đông ở Sài G̣n đến tháng ba năm
1945. Nhựt Bổn đoạt chính quyền mới thôi
luôn được.
Nhưng năm 1946, Bác sĩ Nguyễn Văn
Thinh lănh chức Thủ tướng, lập Chánh phủ
tự trị Nam kỳ, người có mời đến
và cậy làm cố vấn. Phải giúp cho người
từ tháng 6 năm đó đến tháng 11, người
bực tức v́ bị gạt nên quyên sinh, mới
được thong thả trở về G̣ Công, là chốn
cố hương mà dưỡng nhàn, an phận già cả.
Làm công bộc trót 35 năm, chánh phủ Pháp có
ban những Huy chương kể sau đây:
- Khuê bài danh dự bằng bạc 18-12-1920
- Kim
tiền 06-04-1921
-
Monisaraphon 16-08-1924
- Ordre Royal
du Dragon de l'Annam 25-03-1927
- Ordre Royal
du Cambodge 22-09-1927
- Chevalier
de la Ligion d'Honneur 09-08-1941
C - Trong văn giới:
Từ đầu thế kỷ thứ 20, nhà
nước cho lập trường dạy học chữ
quốc ngữ khắp các làng. Trong 5 năm thứ chữ
ấy được phổ thông sâu rộng trong dân gian.
Năm 1906, ra khỏi nhà trường, nhận thấy các
ấn quán ở Sài G̣n mướn người dịch
truyện Tàu và thơ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ
đặng in mà bán. Từ thành thị ra thôn quê, nhân dân
đua nhau mua mà đọc. Có vài tờ tuần báo cũng
được người ta chú ư.
Thầm nghĩ, người ḿnh mà biết
chuyện bên Tàu không bổ ích cho bằng biết truyện
trong nước ḿnh. Tính viết chuyện văn vần cho
đăng vào mấy tờ tuần báo để
đồng bào đọc thử. Viết khó khăn
hết sức v́ thiếu Nho học nên t́m không ra lời mà
tả tứ ư cho người ta thông cảm
được. Phải học chữ Nho. Trót ba năm,
nhờ vài ông bạn lớn tuổi ban đêm làm ơn
dạy dùm cho đọc được sách Tàu.
Năm 1910 lựa những chuyện hay trong
"t́nh sử" và "kim cổ kỳ quan" dịch
ra quốc văn nhan đề "Tân soạn cổ
tích" đặng tập viết cho xuông. Cũng viết
theo thể văn "thượng lục hạ bát"
thành một chuyện dài nhan đề "U t́nh
Lục" chuyện t́nh của người trong
nước ḿnh. Hai quyển này được mấy
bạn hùn tiền in thử th́ không ai chê.
Lúc đó cụ Trần Chánh Chiếu cho
xuất bản quyển "Hoàng Tố Anh hàm oan" là
tiểu thuyết đầu tiên trong lục tỉnh,
truyện t́nh tả nhân vật trong xứ và viết theo
điệu văn xuôi. Đọc quyển văn này
cảm thấy viết truyện dùng văn xuôi để
cảm hóa người đọc hơn, bởi vậy
năm 1912, đổi xuống làm việc tại Cà Mau
mới viết thử quyển "Ai làm
được" là quyển tiểu thuyết thứ
nhất viết văn xuôi tại Cà Mau.
Đổi lên Long Xuyên năm sau, viết quyển
thứ nh́, cũng văn xuôi, nhan đề "Chúa Tàu kim
qui" phỏng theo quyển "Le comte de Monte - Cristo"
của Alexandre Dumas, viết điệu phiêu lưu, nghi có
lẽ dễ hấp dẫn hơn.
Kể thế giới chiến tranh thứ
nhứt bùng nổ, công việc đa đoan không viết
tiểu thuyết được nữa, chỉ viết
mấy hài kịch nho nhỏ cho mấy thầy hát
đặng kiếm tiền giúp cho chiến sĩ Việt
Nam ngoài mặt trận Âu Châu.
Năm 1917, hội Khuyến học Long Xuyên
xuất bản tập nguyệt san "Đại việt
tạp chí" cậy lănh viết giúp về khoa kinh tế
lư tài.
Năm 1918, đổi về Gia Định,
phụ bút cho mấy tờ báo: Quốc dân diễn đàn,
Nông cổ mín đàm, Công luận báo, Lục tỉnh Tân
văn, Đông Pháp thời báo.
Năm 1922 v́ kiểm duyệt gắt gao,
nghỉ viết báo bổ ích, mới bỏ mà chấn
chỉnh lại 2 quyển tiểu thuyết viết
hồi 1912 tại Cà Mau và 1913 tại Long Xuyên cho xuất
bản và viết thêm 8 quyển mới nữa.
Từ năm 1927 tới năm 1932 làm chủ
quận Càn Long viết thêm 8 quyển mới, cộng
trước sau dưới 18 quyển.
Ở Cần Thơ 3 năm nhằm lúc
khủng hoảng kinh tế, nhân dân nghèo khổ, phận
sự chủ quận đa đoan, không thể ngồi
viết tiểu thuyết được.
Đầu năm 1935, được trở
về Sài G̣n. Từ đó tới năm 1943 viết
tiếp được 23 quyển tiểu thuyết
mới nữa. Trong khoảng này có viết được
4 tuồng hát bội và 3 tuồng hát cải lương.
Từ năm 1942 tới năm 1944, làm giám
đốc chủ nhiệm tập bán nguyệt san
"Đại Việt tạp chí" và tờ "Nam
kỳ tuần báo".
Năm 1945 tản cư ở G̣ Công trót 9
năm viết thêm được 22 quyển tiểu
thuyết mới nữa, trong số này có viết 4 bộ
theo điệu trường giang đại hải,
mỗi bộ phải phân in ra 4 - 5 quyển mới dứt.
Đến ngày nay cộng chung cả thảy trước
sau được 63 bộ tiểu thuyết.
Cũng trong khoảng đời thảnh
thơi đó, có khảo cứu về văn học về
luận lư, về lịch sử, về tôn giáo đông tây,
mà biên ra làm nhiều tập để lại cho con cháu
nhỏ xem mà mở rộng kiến thức khỏi
phải kiếm thầy.
Hiện thời già yếu, ngồi lâu mệt
mỏi, đi đứng không vững, nhưng lúc nào
khỏe cũng ráng viết ít tập kư ức về
đời sống cực nhọc và lưu lại cho con
cháu trong nhà, hoặc mấy sấp nhỏ noi dấu mà
thủ phận thuận lời thính thiên, an lạc với
đạo thanh cần cho khỏi luốc lem, khỏi
hối ngộ.
24-12-1957
Trích trong "Cay đắng mùi
đời" In lần thứ 9 - Nhà XB Sông Kiên Sài G̣n 1961.
NGUYỄN PHÚC BỬU Đ̀NH
ĐUỐC NHÀ NAM 15-9-1971
Nguyễn Bá Thế
Cành vàng lá ngọc mà cam sống khổ
nhục trong tự do, không cúi đầu trước
bạo lực quyền ngu xuân, đi đày Côn Đảo,
hai phen vượt ngục.
Khoảng năm 1930, bạn đọc
Phụ Nữ Tân Văn hầu hết đều say mê
tiểu thuyết đăng từng kỳ nhản là
"Mảnh trăng thu" rồi kế tiếp là bộ
"Cậu Tám Lọ". Tác giả chỉ kư tên bằng
hai chữ tắt B.Đ và sau này có xuất bản thành sách
cũng được hoan nghênh nhiệt liệt. B.Đ là
ai? Cớ sao như thế, sao lại giấu tên? Khiêm
nhượng chăng? Hay v́ một lẽ riêng ǵ. Cả hai
câu hỏi trên đây đều đúng phần nào. Tác
giả quả có khiêm nhường - giấu tên, nhất là
v́ một lẽ riêng, cả tác giả và nhà báo đều
đồng ư chỉ ghi tắt như thế thôi. Lẽ
riêng ấy chỉ v́ tác giả là chính trị phạm
đang bị đày ngoài Côn Đảo và xây dựng tác
phẩm ngoài Đảo, lén lút gửi về đăng báo
trong Nam.
Người ấy Nguyễn Phúc Bửu
Đ́nh vốn là một vị hoàng thân, hai chữ B.Đ
chính là tên thật viết tắt bư danh, Bửu Đ́nh theo
hệ phái trong Hoàng tộc. Ông vốn là tằng tôn nam
của hoàng thân Tinh Gia con ḍng thứ 41 của vua Minh
Mạng và vai Bác của Bảo Đại. Trong Hoàng
tộc, Nguyễn Phúc, nếu đă có một Cường
Để xuất dương vận động cứu
quốc th́ một ông hoàng khác đáng được
đề cao nữa là Nguyễn Phúc Bửu Đ́nh can
trường khí phách của ông c̣n vượt xa hơn
Cường Để. Mang nặng trong tâm sự ư chí cách
mạng, ông đă can đảm đơn độc
đứng lên chống đối chánh sách ngu dân của
cường quyền bảo hộ và khẳng khái chỉ
trích lề lối phong kiến, cổ hủ của chính
quyền bù nh́n Nam Triều. Do đó tên tuổi ông đáng
được liệt vào hàng ngũ chí sĩ để cho
quốc gia dân tộc nhớ ơn luyến tiếc mến
thương.
Thân phụ ông ư chí cũng can trường
khiến hoàng gia lấy làm khó chịu đầy đi làm
quan ở một tỉnh nhỏ. Theo cha đi phương
xa rời khỏi chốn hoàng thành cung điện vàng son,
dù tuổi c̣n trẻ ông vẫn dửng dưng không một
chút nào lưu luyến cuộc sống vương giả
mà bệ rạc tinh thần ấy. Ông tuyệt đối
không chịu mặc áo vàng - vàng của hoàng gia mà cũng
không khâu lưng gối sống theo nếp sống kiểu
xa đài các của hàng vương tôn quí phái. Ngay từ
thuở bé, ông đă chịu sống ḥa ḿnh với dân chúng
b́nh dân.
Lúc lên năm, lên sáu, ông được gởi
học nơi trường tiểu học Phan Thiết,
đến năm 14 tuổi ông được trở
về Huế vào học trường Quốc học.
Hoàng gia vẫn có ư uốn nắn ông vào khuôn
khổ, nhưng ông vẫn ương ngạnh bất
khuất, ông thẳng thắn lên tiếng chê lối
sống của những h́nh nộm, những động
tác chỉ làm răm rắp tuân theo sự giựt dây
điều khiển của người khác.
Ít lâu sau, ông vâng mạng song thân kết hôn
với Nguyễn Thị Hiếu, con gái vị trưởng
xă ở G̣ Công, ông giảm bớt hoạt động chính
trị nhưng túi ḷng vẫn sốt sắng lo việc ích
quốc lợi dân. Tại Sở Bưu Điện, ông
rất được ḷng anh em bầu ông làm Tổng
Thư Kư Hợp ái hữu nhân viên Bưu Điện VN.
Đáp lại ḷng tín nhiệm của anh em, ngày 1-1-1926 chính
ông đứng ra lănh đạo cuộc đ́nh công của
nhân viên Bưu Điện. Nhà cầm quyền ra tay đàn
áp, ông bị đổi lập tức lên vùng núi.
Không quen khí hậu mới ma thiêng nước
độc, ông ngă bệnh về Chợ Lớn điều
trị hơn hai tháng. Vừa ra nhà thương ông lại
bị hăm dọa đổi đi nơi xa hơn
nữa, ông phản đối và từ chức. Nỗi
căm hờn đă tràn ngập ḷng, ông không c̣n đè nén
được nữa, dấn thân hoạt động chính
trị mạnh mẽ những việc làm có tính cách chống
đối quyết liệt của ông khiến nhà cầm
quyền Pháp và Nam Triều nóng mặt. Chiều 23-2-1927 ông
bị bắt đưa ra "Hội Đồng Tôn nhân
phủ" xét xử. Hôm sau dân chúng Huế biểu t́nh
phản đối binh vực ông.
Một mặt trấn an, một mặt
đàn áp dẹp xong đám biểu t́nh, Hội Đồng
Tôn nhân phủ tái nhóm xử phạt B.Đ. 9 năm khổ
sai đày đi Lao Bảo đồng thời bị khai
trừ khỏi Hoàng tộc, không được mang tên hiệu
Hoàng gia nữa, đổi gọi là Tạ Đức.
Tại Lao Bảo bị ngược đăi
tàn tệ, ông tuyệt thực phản đối, dân chúng
Huế xôn xao định biểu t́nh để đ̣i
trả tự do cho ông, nhà cầm quyền càng căm ghét
đưa ông ra Côn Đảo cho dứt hết các
chuyện lộn xộn và cố t́nh bỏ xác ông ngoài
ấy.
Ngoài đảo ông được đối
xử tử tế hơn. Viên quản đốc là ???, sau
đổi người khác là Bouvier đều gọi ông là
Monsieur Le Prince (ông Hoàng) dùng ông làm Thư kư cho họ, ông thu
hết nghị lực cố gắng sống cho qua giai
đoạn gian truân, ông có mấy vần thơ trào phúng
đề tựa núi.
Hỏi vợ con ôi chớ có phiền
Thế này
là sung sướng hơn tiên
Cơm ngày
hai bữa quân đem tới
Đêm gác
10 giờ lính đổi phiên
Ngoài
cửa quân binh năm bảy cậu
Trong pḥng
tuần sát một vài tên
Buồn
vui sân bạc vài câu chuyện
Mừng có
Lư Thoa thật bạn hiền
Trong thơ ông nói đến tên Lư Thoa
tức J.J. Rousseau, là ông hàng nuôi tử trong dân chủ cách
mạng chính trong giai đoạn bị đày ngoài
đảo ông đă sáng tác hai quyển tiểu thuyết có
tiếng là: Mảnh trăng thu và Cậu Tám Lọ, lần
lượt gởi lén vào Sài G̣n đăng trên tuần báo
"Phụ Nữ Tân Văn" kư dưới tên tắt
B.Đ như chúng tôi đă nói ở trên.
Nhờ khéo thu phục được cảm
t́nh của một nữ công chức trên đảo nên ông
đă được người nữ công chức ấy
t́m cách chuyển các trang bản thảo vào đất
liền một cách an toàn. Ông đă thổn thức say
sưa viết trong những đêm dài vô tận, thân xác
bị lưu đày mà tâm hồn vẫn phảng phất
ở quê hương mang nặng t́nh dân tộc và t́nh
đất nước.
Ngoài hai tiểu thuyết kể trên, ông c̣n sáng
tác một tập thơ nhan đề "Giọt lệ
tri âm" đă thất lạc và một xấp bản
thảo viết dở dang một truyện dài khác, nhan
đề "Chuyến đi" (Về sau mấy
mươi trang bản thảo "Chuyến đi"
vẫn do người nữ công chức trên đảo c̣n
giữ được, t́m đến chuyển trao cho ông
Thiếu Sơn để tùy nghi sắp đặt cống
hiến bạn đọc thưởng thức. Cảm
mến tinh thần Bửu Đ́nh, ông Thiều Sơn trao
lại xấp bản thảo ấy cho ông Huỳnh Hoài
Lạc, chủ nhiệm nhật báo Chuông Mai đăng
tải trên Chuông Mai, dưới nhan sách đổi lại
là "Buổi đầu".
Chẳng những ông được cảm
t́nh của các nhân viên chính quyền trên đảo mà lại
c̣n được các hạng tù nhân yêu kính. Dù thế nào ông
vẫn không quên thân phận là chính trị phạm bị
lưu đày, ông há chịu an phận với đời
sống trên đảo sao? Huống chi ông đă biết
rằng người ta cố ư giam chết cuộc
đời ông ngoài Côn Đảo không có ngày về, ông
đành chịu bó tay sao? Người tranh đấu không
bao giờ quên nghĩ tới tự do. Thế nên hai lần
ông đă vượt ngục Côn Nôn. Lần thứ nhứt
vào ngày 15-10-1930, ông cùng với 13 bạn đồng cảnh
ngộ kết bè vượt ngục ở khoảng Ḥn Tre
lớn toan trốn về Sài G̣n đất liền nhưng
trốn không thoát, trong khi c̣n bềnh bồng trên mặt
biển có một người đói lả chết th́
một chiếc tàu ngoại quốc bắt gặp. Họ
cứu tất cả những người c̣n sống, lên
tàu cho ăn uống, rồi họ hỏi lư lịch
biết là người VN, thuyền trưởng tàu
ngoại quốc liền chở luôn tới Tân Gia Ba giao cho
sứ quán Pháp.
Ông và các bạn khác khai với ngoại
quốc là những người đánh cá lâm nạn.
Tới sứ quán Pháp, nhân viên ở đây cho điều
tra kỹ, vỡ lẽ là tù vượt ngục, họ
bắt giải ông và đồng bọn trả về Côn
Đảo vào tháng 12 năm 1930.
Giám Đốc Bouvier trách ông: Tôi đă làm ǵ cho
ông hoàng phải buồn?
Ông đáp: Tôi làm bổn phận tôi.
Cố nhiên ông không khỏi bị trừng
trị theo chế độ lao tù, ông ôm hận nuốt
thảm sầu, tâm tư vẫn cưu mang tái diễn
cảnh vượt ngục thà tự do hay là chết. Đến
tháng 10-1931, ông thi hành ư định vượt ngục
lần thứ hai với hai đồng bạn. Cùng thả
bè ra đi từ Ḥn Tre lớn, ông cương quyết
liều mạng lần cuối cùng, hoặc tự sát
nếu chẳng may bị bắt lại trả về
nơi địa ngục trần gian ấy.
Trước lúc ra khơi, ông làm một
tấm bảng bằng tre lấy vỏ và viết một
bài thơ để lại cho Bouvier:
Mấy lời nhắn nhủ chú Bu-vê
Tháo củi từ nay thẳng một bề
Chim hồng cát cánh bay bay bổng
Một vùng trời thấm nước non quê
Theo tài liệu của ông Đặng Văn
Nhâm: "Vài tháng sau cuộc vượt ngục này có công
điện của Bảo Đại đánh ra ân xá cho
Bửu Đ́nh, nhưng người đâu c̣n nữa,
người đă an thân giữa sóng bể đại
dương đem theo một hoài băo chưa thành, về sau
có tin đồn, người trốn ở Thái Lan và đă
quy y trong chùa. Nhưng theo lời ông Bửu Kính là em
người và bà Bửu Đ́nh ở G̣ Công cùng với cô
con gái lớn th́ quả thật người đă không c̣n
nữa".
Theo tài liệu của ông Thiếu Sơn.
"Lâu nay ông trốn thoát, có người nói
ông về tới Thái Lan, có người nói hồi bắt
đầu kháng chiến ông có về tham gia mà chết ở
ngoài khu chết bóng chứ không chết tên, nhưng bà
Bửu Đ́nh hiện ở G̣ Công cùng với người
con gái duy nhất đă có lần kiếm thăm tôi
(Thiếu Sơn) th́ cho rằng ông chưa chết. Chết
hay chưa chết, điều đó không quan trọng,
nếu ông chưa chết th́ rồi ông cũng phải
chết như tất cả mọi người.
Điều đáng kể là ông đă sống trong sạch,
hiên ngang, đau khổ nhưng bất khuất.
Từ trước đến nay đă có 3 cây
bút sáng giá viết về Bửu Đ́nh.
1 - Ông Đặng Văn Nhâm bài "Bửu
Đ́nh" đăng ở tạp chí "Phổ
thông" số 15 ngày 13-7-1959.
2 - Ông Nguyễn Vỹ, bài "Nhà cách mạng
Bửu Đ́nh" đăng ở tuần báo Ngày mới.
3 - Ông Thiều Sơn, bài "Bài học
Bửu Đ́nh" đăng ở nhật báo Thần Chung,
cả ba ông Thiều Sơn, Nguyễn Vỹ và Đặng
Văn Nhâm đều dành cho Bửu Đ́nh những cảm
t́nh rất đậm đà. Ông Đặng Văn Nhâm ghi:
Bửu Đ́nh, anh linh, khí phách của ông, ta
tưởng chừng như c̣n phảng phất
dưới đây... người chết đi chẳng
những để lại cho chúng ta những văn
phẩm giá trị như "Mảnh trăng thu",
"Cậu Tám Lọ" mà c̣n để lại cho ta bao
nỗi niềm thương xót sâu xa.
Ông Thiều Sơn ??? tỏ cảm t́nh về
B.Đ
"Ông sở trường về tiểu
thuyết, bây giờ đọc lại người ta chê là
xưa, nhưng lớp người xưa như chúng tôi
lấy làm thích thú về những nhân vật điển
h́nh phần nhiều đều là những mẫu
người lư tưởng hoặc là anh hùng, hào kiệt,
hoặc là liệt nữ, chinh phu, những người
sống chung với tất cả mọi người
nhưng luôn luôn để tâm hồn, t́nh cảm vươn
lên tới những đỉnh tuyệt vời của lư
tưởng. Phải có những người như thế
mới khiến cho ta không thất vọng và c̣n tin
tưởng ở nhân loại. Có thể người ta chê
B.Đ là không tưởng, nhưng không ai dám cho ông là
tầm thường.
Ông hoàng B.Đ không có ngai vàng, không có quyền
thế, chưa thi ân bố đức cho ai, lại bị
bôi sổ trong hoàng tộc, nhưng ông vẫn có uy tín
đối với những người đă gần ông,
hiểu ông, kính trọng ông và sẵn sàng tận tụy với
ông.
Ông mất ngôi vua, nhưng đă ngự
trị trong ḷng người, rất nhiều người,
mặc dù tôi (Thiều Sơn) chưa dám nói là ḷng dân
tộc, ông chưa phải là người đứng trong
thiên hạ mà cùng tranh đấu cho ḿnh, cho người. Ông
chưa phải là điển h́nh của dân tộc nhưng
ít nhất ông cũng bảo vệ danh dự cho hoàng gia.
Trên địa hạt văn chương,
cũng cần cho ông một chỗ ngồi xứng
đáng.
Bửu Đ́nh, văn sĩ, chiến sĩ
cách mạng, Đặng Văn Nhâm, tạp chí Phổ thông
số 15 ngày 13-7-1959.
Thời kỳ ở Sài G̣n.
"Người vào Sài G̣n, thi đỗ vào làm
công chức Sở Bưu điện, người vừa
đi làm cho Sở để kiếm tiền, vừa
viết báo để nuôi chí hướng. Trước tiên,
người cộng sự với tờ "Công Luận
báo" dưới biệt hiệu là "Hà Trị".
Về sau người đứng ra tự tổ chức
một tờ báo khác lấy một tên là "Nam Kỳ kinh
tế báo".
Bửu Đ́nh dùng tờ báo chỉ trích
những thối nát của Nam Kỳ và chính sách cai trị
của thực dân "Người hết lời thóa
mạ bọn quan chức, mũ cao áo rộng của
triều đ́nh Huế mà đa số là hàng chú, bác ruột
thịt. Người đặt tên cho bọn ấy là
"những thằng hề" và cương quyết
phản đối tội khi quân do nhà vua đă gán cho
người chỉ trích Bảo Đại (lúc ấy c̣n
đang du học tại Pháp để sau về
nước làm vua). Bằng một giọng văn khinh khi
chế giễu. Người đă dám dùng chữ thằng
vua thay cho chữ thiên tử. Quả là ngạo mạn và can
đảm ít có ở thời ấy.
Thái độ khẳng khái của B.Đ -
trả lại bằng sắc Khải Định phong
đề ngày 16-8-1925 với những lời ghi: Ta đă
t́m được một nơi thanh tịnh để an
thân, ta hài ḷng lắm! Ta không c̣n muốn liên lạc ǵ
với triều đ́nh Huế, không nhận huân
chương, chức tước. Ta đă cố quên
thời thơ ấu của ta đi. Ta không ước ǵ
hơn được sống măi như thế này,
chẳng cần đỉnh đai, chức
tước".
Viên Giám đốc Bưu điện Nam
kỳ Malpuch ghi vào hồ sơ lư lịch của Bửu
Đ́nh: "Kiêu ngạo, ghét đời, nhân viên này gây
ảnh hưởng chán nản lệ luật cho các bạn
đồng chức, quan hệ đến vấn
đề tranh vị của Vương Triều. Bửu
Đ́nh cho ngành hiện có quyền thống trị như là
đă soán nghịch, trầm vị... nguyên văn
"Arrogant, aigu, cet agent exerce une influence demoralisaude de ses
collègues. Il s'agit d'une querelles dynastrique, Bửu Đ́nh considère
la branche régnante comme usurpextrice".
- Bửu Đ́nh, dưới bút hiệu
"Hà Trị" vẫn xuất hiện trên 2 tờ báo
lớn ở Nam kỳ "L'essor indochinois" và "Tân
thế kỷ", ngoài ra thường đi diễn
thuyết ở Nam kỳ và Trung kỳ, ngày 20-2-1927, một
ngày tốt, Bửu Đ́nh đứng đầu một
đám đông văn sĩ ở Huế hô hào chúc mừng
năm mới cụ Phan Bội Châu, nhà cách mạng lăo thành
Việt Nam, đă được viên toàn quyền Varenne ân
xá. Sau đó chiều 23-2-1927, Bửu Đ́nh nhận
được thư mời của "Tôn nhân
phủ", đến nơi người được
một vị quan cao cấp của triều đ́nh - mà
cũng là cậu ruột báo cho biết từ giờ phút này
người đă bị mất tự do.
Bốn câu thơ để lại cho Bouvier,
ghi khác bản của Thế Nguyên.
Mấy lời nhắn chú Bouvier
Đó ở, đây đi thẳng một
bề
Chim đă sổ lồng mong thẳng cánh
Trời cao biển rộng, nước non quê
- Chú thích: Trong bài có chụp một
đoạn bản viết tay "Cậu Tám Lọ".
ĐIỀU KIỆN ẤN LOÁT, PHÁT HÀNH
Chúng tôi muốn t́m hiểu trong thời kỳ
đầu này, t́nh h́nh ấn loát (nhà in) phát hành (nhà xuất
bản, tiệm sách) mối quan hệ những
người cầm bút v.v... Dưới đây là một vài
hiểu biết bước đầu ghi nhận
được.
T̀NH H̀NH NHÀ IN
Ngay từ lúc mới sang, nhà in là một trong
mấy thứ cần thiết ưu tiên hàng đầu mà
người Pháp thiết lập: "Một nhà
thương, một khách sạn cho quân toàn quyền,
những nhà ở cho quân đội, viên chức, nhà thờ
và nhà in", những công tŕnh trên được Bonard
thực hiện trong một năm rưỡi (tháng 11/1861
đến 30-4-1863). Đây là nhà in nhà nước, mang
nhiều tên khác nhau. Lúc đầu là Imprimerie impériale
(thời quân chủ) sau đó là Imprimrie, Coloniale Impriemerie du
Gouvernement... Theo "Sách quan chế" của Huỳnh
Tịnh Của (bản in nhà nước 1888) nhà in nhà
nước in cho cả Đông Dương, các cơ quan
địa phương trả tiền, nhưng vẫn hao
hụt và nhà in chịu thiệt nên đề nghị
quỹ Đông Dương phải chịu chung phí tổn.
Không phải nhà in, chỉ in những thứ của nhà
nước, mà cũng in những thứ của tư nhân
nữa.
Trong các biên bản của Hội Đồng
quản hạt, thường đăng những quy
chế về tổ chức điều hành lương
bổng của nhân viên nhà in. Lương ăn theo
lương bên Pháp cộng thêm phụ cấp thuộc
địa, thâm niên, chẳng hạn lương giám
đốc 1.698 đồng (kể cả ba khoản)
người sửa chữ in 455đ20, 145đ60; ba nhân viên
á đông hạng nhất 240đ mỗi người, 8
thợ 144đ mỗi người, gác cửa 120đ. Lương
thợ nhà in bằng lương một cử nhân luật
sư có người trong Hội đồng đă nhận
xét; thế mà có người vẫn bất măn, làm loạn
và bị đuổi về Pháp.
Nhà in thứ hai được thành lập
sớm nhất là nhà in Tân Định - (Imprimerie de la
Mission). Theo Louvet (3) người sáng lập ra Nhà in nhà chung
này là linh mục Eveillard (cố Sơn). Muốn mở mang
trường phải có sách học, trong túi ông chỉ có 2, 3
ngh́n quan, ông vận động xin mua máy, chữ, giấy
từ Pháp gởi qua. Lúc đầu Nhà in chỉ là một
căn nhà tranh được dựng bên chủng viện
(hiện nay là số 6 đường Đinh Tiên Hoàng). Khó
khăn hơn cả là t́m ra thợ và nhất là đào
tạo họ. Hai trẻ mồ côi 13 - 15 tuổi của nhà
"Sainte Enfance" do mấy d́ phước trao cho là
những người thợ tập sự đầu. Nhà
in dọn về bên nhà thờ Tân Định có chừng 30
thợ. Nhà in xuất bản các sách đạo và sách
học, cho các trường Công giáo từ 15 năm nay
được khoảng 50 cuốn. Do đó có thể
phỏng đoán nhà in được thành lập vào
khoảng năm 1870 (4). Đó là hai nhà in đầu tiên
ở Sài G̣n. Sau đó nhiều người Pháp tư nhân
theo nhau mở nhà in, nhà xuất bản, có lẽ v́ coi
đây là một nghề kinh doanh có lời... Chúng tôi chưa
rơ những nhà in tư của người Pháp bắt đầu
từ bao giờ, nhưng căn cứ vào mục lục kê
khai sách của Trương Vĩnh Kư theo nhà in có lẽ hai
nhà in C.Guillant et Martinon và Rey et Curiol là sớm hơn cả
vào quăng 1880. Sau đây là danh sách một số nhà xuất
bản, nhà sách, nhà in mà chúng tôi sưu tầm
được Joseph Linage, Libraire - Edireur. B. Gastaldy, editeur.
<<(1) A. BAUDRIT. GUIDE HISTORIQUE DES RUES DE SAIGON.
1. edit, S.I.L.I Saigon 1943, tr. 23.
(2) Procesverbaux du Conséil colonial, année 1885. Séance du
21-1-1885 tr. 125-126.
(3) La Cochinchine religieuse. tome II. Paris Challamel Hiné.
1885. tr. 456.
(4) Một kê khai tạm thời những sách
xuất bản của nhà in Tân Định từ 1920
trở về trước là 162 cuốn đủ loại,
trong số này có nhiều truyện nôm, văn học dân gian
như Nhị Độ Mai, Lục sức tranh công,
Truyện đời xưa, xem thêm tài liệu riêng về
Nhà in Tân Định.>>
- Editeur Renoux (hiệu thuốc Tây kiêm nhà
xuất bản)
- C. Guilland
et Martinon
- Rey et
Curol
- Imprimente
Claude et Cie
- Imprim.
Auguste Bosc
- Imprimerie
Saigonnaise
- Imprimerie
Nouvelle et libraire A.Portail
- Imprimerie
Moderne. LN.Heloury et S.Montegout
- Imp. F.H.
Schneider (có cả ở Hà Nội)
- Imp.
Commerciale C.Ardin
- Imp.
Messard du Rey
- Imp.
Monderne J.Testelin
-
Imp.H.Blaquière
Theo thống kê của nhà cầm quyền Pháp
năm 1901, Nam Kỳ có 2.551.986 người. Riêng Sài G̣n 3.000
Pháp kiều, 24.640 người Annam gốc Nam Kỳ, 723
gốc Trung Bắc, Chợ Lớn 124 Pháp Kiều, 33.932
người Annam gốc Nam kỳ, 352 gốc Trung Bắc (2)
nghĩa là Sài G̣n, Chợ Lớn trên 5 vạn người mà
có trên dưới 20 nhà in cho phép chúng ta nghĩ rằng
nghề in phải là một nghề kinh doanh có lời và
phát đạt. Do đó nghề in ở miền Nam kể
là có rất sớm và một đội ngũ tay nghề
thợ được đào tạo trong các nhà in của
người Pháp đă ra một truyền thống vẫn
c̣n thấy ảnh hưởng cho đến nay. Nhà in
nhiều vậy nhưng có ǵ mà in? Chúng tôi xin giới
thiệu quảng cáo của hai nhà in Claude et Cie và Rey Rey et
Curiol đăng trong "Báo Nam Kỳ năm 1989"
<<(2) Xem Etat de la Cochinchine Francaise
1903.>>
Nhà in mới, cùng nhà hàng bán sách
Ông Claude et Cie
Ở tại trường Catinat số 119,
121, 123, 125, 127, in các thư giấy nhà nước, giấy
sổ buôn bán chữ quốc ngữ cùng chữ Annam
giấy thơ, thiệp cung hỉ, trắng hay là đỏ,
thiệp mời ăn cưới và thiệp mời đi
đám xác, làm con dấu bằng da thung, đóng sách có mạ
vàng, cách chắc chắn, bán đủ đồ dùng trong
nhà làm việc nhà và nhà trường lại có bán thơ
tiếng quốc ngữ.
Quảng cáo sách: 20 cuốn sách của
Trương Vĩnh Kư (Báo Nam kỳ 1989)
10 cuốn của nhà in Tân Định.
Nhà in cùng nhà hàng bán sách lớn hơn hết
Rey Curiol et Cie, ở tại đường Catinat và d'omray,
lập ra hơn ba chục năm nay, in các thứ giấy
nhà nước, giấy sổ buôn bán, chữ quốc
ngữ cùng chữ Annam có in Nhựt Tŕnh Nam kỳ, giấy
thơ, thiệp cung hỷ trắng hay là đỏ,
thiếp mời ăn cưới và thiếp mời đi
đám xác, làm con dấu bằng da thung, đóng sách có mạ
vàng, cách chắc chắn và tốt lắm. Bán đồ dùng
trong nhà làm việc và đồ nhà trường, nhà vẽ.
Giá tiền rẻ hơn hết.
(Quảng cáo sách của Trương Vĩnh
Kư, Paulus Của, nhà in Tân Định).
Nhà in do người Việt thành lập
cũng có rất sớm. Nhà in sớm hơn cả có
lẽ là nhà in Phát Toàn. Theo cụ Vương Hồng
Sến trong Sài G̣n năm xưa (tr.171), Đinh Thái Sơn
gốc Nghệ An, đạo gốc sơ cẩm
đạo, vào Nam từ thuở nhỏ học nghề
đóng sách tại nhà in Tân Định, rồi nhờ
Trương Vĩnh Kư giới thiệu lănh đóng sách cho
kho sách nhà nước. Để nhớ ơn bố
vợ, ông lấy tên bố vợ đặt tên nhà in
đồng thời cũng là nhà sách, kèm thêm nghề sửa
xe máy, đèn manchon, nhận mua hàng dùm cho thân chủ ở
Lục Tỉnh. Nhà sách - Phát Toàn sau nhượng lại cho
Nguyễn Văn Viết.
Nguyễn Liên Phong, viết: "Nam kỳ phong
tục nhân vật diễn ca" Đinh Thái Sơn đi
Phát Toàn editeur Sài G̣n, Phát Toàn libraire - imprimeur. 55 - 57 rue dórmay
1909 đă dành một trang để kể lai lịch ông chủ
nhà in xuất bản sách cho ḿnh như sau:
"Nhà lầu thờ Đức Chúa Trời,
tên kêu Tân Định thiệt nơi chỉnh tề
Người
trong họ, ở tứ bề, Nhà in Cha Thượng
cất kề dựa bên
Lập
thành cơ chỉ vững bền, bán ra sách vở giúp nên các
tràng
Đinh
Thái Sơn người Nghệ An, gốc ḍng khoa mụt rơ
ràng tra manh
Vào Nam
kỳ thuở xuân xanh, theo Lê Bá Đảnh học hành
lập thân
Ai dè
thời sự phân vân, vào trường Tân Định
tập dần công phu
Bốn
năm lao khó cần cù, học nghề đóng sách luyện
tu nghiệp thành
Rồi ra
ở tại Bến Thành, nhờ ô-gức-Bốc (Auguste
Bosc) tất t́nh làm công.
Mỗi
chiều phận sự vẹn xong, mỗi ngày hai cắt
cũng không đa phiền
Lần
hồi sau cũng khá tiền, cám ơn nhạc phụ
đức hiền phối duyên
Ăn chung
mà lại làm riêng, ít nhiều thâu góp nhọc siêng tháng ngày.
Bày làm
vốn nhỏ đầu tay, năm trăm đồng
bạc dựng gầy thiểu đa
Dốc
ḷng bền chí trát ma, nhờ ông Vĩnh Kư ơn ra bảo
toàn
Xin dùm
đóng sách cho quan, tại nơi kho sách bạc ngàn hóa sanh
Ngày nay
phấn chấn thân danh, vợ con sung túc lập thành qui mô
Lưu
truyền vĩnh viễn cơ đồ, cội cây
nguồn nước dám mô quyên ???
Hiệu
đề Phát Toán một khi, đem tên cha vợ tác ghi
để đời
Cho người hay biết nơi nơi, bàn
thanh ngọc thuận rạng ngời gia thinh (tr.39)
Nhà in Phát Toán - Đinh Thái Sơn
Ông Đinh Thái Sơn được triều
đ́nh Đại Nam sắc tứ kim khánh nhựt
diện. Trong bữa tiệc mừng, ông Nguyễn Chánh
Sắt thay mặt báo NCMĐ đă phát biểu: "...
Vả chăng thầy Đinh Thái Sơn này người
quán Nghệ An, vẫn là con nhà khoa mục, noi dấu trâm
anh, nhưng mà gặp lối chẳng may lúc mới 12
tuổi rủi gặp cơn binh cách, thiên hạ phân vân, nên
phải lưu lạc vào đất Sài G̣n, ở ngụ
nơi Tân Định. Lúc ấy nhơn t́nh ai ai cũng
vậy, hễ thấy kẻ thất thời th́ chí cho
khỏi khi hạt dẻ đui, nhưng mà thấy Đinh
Thái Sơn cũng bền ḷng phẩn nhục, nhắm
mắt đưa chân, xin vào nhà in mà học nghề đóng
sách, lần lần hè lại thu qua, nghề nghiệp
đặng tinh, mới xin vào làm công nơi nhà in của ông
Bock, một ngày hai, ba cắc bạc mà lần lựa
với đời. Song nhờ tính người tiện
tặng, làm đặng bao nhiêu cứ hom hỉnh bấy
nhiêu, lần hồi tự tiêu thành đa mới có dư ra
chút đỉnh. Lại may nhờ lịnh nhạc của
thầy, thấy vậy th́ thương, kêu về gả
con là thím Năm bấy giờ đây, lại giúp thêm
chốn liếng, thầy nhờ đó mới ra
mướn một căn phố ngang trước nhà
thờ Tân Định mà lập một nhà đóng sách nho
nhỏ. Lúc ấy tôi vẫn c̣n giúp việc tại pḥng Canh
nông, thầy thường tới lui lănh sách nơi bureau
tối đem về mà đóng, cho nên tôi với thầy quen
biết nhau là từ ngày ấy.
May nhờ Hoàng Thiên bất phụ, vả
lại làm người ở đời, hễ hữu chí
th́ sự cảnh thành cho nên trong việc làm ăn của
thầy rất mau tiến bộ, bằng đầu c̣n
nhỏ sau hóa ra to, lần lần mở mang ra cuộc kinh
dinh rất nên cả thể! Thiệt là bạch thủ
xuất thân mà làm đặng như vậy, cũng là ít
có..."
Ông Ba Lê: "... ấy vậy ông Đinh Thái
Sơn là người thất học, mà rèn luyện bền
chí, lao khổ kiệm cần, tự lập ngày nay thành
một nhà in rộng lớn, tuy không hơn song chả kém
các nhà in của người ngoại quốc hay bổn
xứ, thợ thầy đông, nghề nghiệp giỏi,
trong tiệm có sắm đủ các máy lớn nhỏ, các
thứ chữ Tây - Nam mỗi ngày lănh in nhựt báo và thơ
tuồng, truyện sách cùng là sổ bộ giấy tờ
cho nhiều Sở, nhiều Ty, càng ngày càng không ngớt việc
nổi tiếng xa gần, cho nên triều đ́nh
Đại Nam mới thưởng Kim Khánh như
vậy." (Trích NCMĐ số ra ngày 7-11-1911).
Phát Toán sang tên cho Nguyễn Văn Của
Nhà in và nhà bán sách hiệu: Imprimerie - Librairie de
l'Union 157 Rue Catinat Sài G̣n. Nông cổ mín đàm số 26/91 -
1918 có lời rao: Xin chớ lầm, (nhà Imprimerie de l'Union là
của M.Lê Văn Nghi và Đinh Thái Sơn dit Phát Toán làm
chủ, bán lại cho Nguyễn Văn Của. Ông Lê Văn
Nghi đi làm ruộng, ông Phát Toán ra lập một tiệm
sách tại đường Espagné không làm nhà in nữa.
Chúng ta biết rơ hơn hoạt động
của nhà in này và năm thành lập trong một đơn
của ông chủ nhà in gởi Hội Đồng quản
hạt ngày 24-8-1909 đề xin nhà nước mua sách
của nhà xuất bản.
Người thuyết tŕnh giới thiệu
bức thơ xác nhận ông Đinh Thái Sơn là người
đầu tiên ở Nam Kỳ lập một nhà xuất
bản với vốn hoàn toàn tư riêng và đă in nhiều
sách bằng tiếng Annam có ích cho việc dạy luân lư
trẻ con, đề nghị chấp thuận việc mua.
Hội đồng đồng ư (1).
<<(1) Procès - Verbaux du Conseil Colonial. Année 1909,
tr.154.>>
"Tôi trân trọng kính xin quí vị lưu ư
đến nhà in và nhà sách mà tôi đă thành lập năm 1879
tại Sài G̣n. Dụng cụ ấn loát đủ loại
trị giá trên 40.000 đồng và cho đến ngày nay, tôi
là người Annam duy nhất làm kỹ nghệ này mà không
nhờ cậy đến bất cứ một hùn vốn
nào. Từ 13 năm cơ sở này được thành
lập đến nay. Nhà nước cũng không hề
cấp cho tôi một khoản tài trợ nào. Cho nên ngày hôm
nay, tôi thành kính xin quí vị mua giúp tôi một số sách
bằng tiếng Annam mà tôi vừa là người xuất
bản vừa là chủ nhằm mục đích khuyến
khích những cố gắng của tôi. Tên sách và giá tiền
được kê khai trong một danh sách đính kèm.
Những sách này có thể dùng trong các trường Quận
và xă ở Nam kỳ.
Bằng cách mua tất cả những sách này,
nhà cầm quyền thuộc địa vừa giúp
đỡ tôi phần nào, vừa làm cho người Annam
hiểu rằng ḿnh biết đánh giá đúng những
cố gắng và việc làm của con cái ḿnh bằng cách
thưởng công chúng khi chúng tỏ ra xứng đáng".
Ngoài nhà in Phát Toán, hai nhà in nổi tiếng khác
là Josoph Nguyễn Văn Viết và Nguyễn Văn Của
(Imp.de l'Union).
- Các nhà in khác: Imp. Nam Tài, Imp. Bảo tồn,
Imp Huỳnh Kim Danh.
- Nhà in xưa nay (do Nguyễn Hán Vĩnh
quản lư), Imp. Phạm Văn Thanh, Tín Đức thư xă
v.v...
Ở dưới tỉnh, cũng có một
vài nơi có nhà in, hoạt động quy mô nhỏ.
Nhà In Văn Vơ Văn (Bến Tre) vào khoảng
1925.
Nhà in của Nữ lưu thư quán ở G̣
Công
- Nhà In An Hà, Imp. de l'Orient ở Cần Thơ
- Nhà in Hồng Lạc ở Sóc Trăng (1927)
- Ở Chợ Lớn, có nhà xuất bản in
chữ nho, chữ nôm như hiệu Quang Thanh Nam, xuất
bản thơ tuồng, thi phú bằng chữ nôm như Kim
Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Trần Trà Hơn... nhưng v́
phải mua chữ bên Trung Hoa do thợ người Tàu
khắc, và v́ thợ Tàu không hiểu chữ nôm - nên khắc
sai lầm rất nhiều và do đó in cũng sai... (2)
<<(2) Theo Phan Văn Hùm, Luận Tùng. Tủ
sách Tân Việt Hà Nội, tr. 16-??? không thấy đề
năm xuất bản.>>
Theo Lục Tỉnh tân văn số 3 ngày
28-11-1907, có đăng tin dự định lập một
"Công Ty Nhà in" gồm 1500 phần hùn, mỗi phần
24 đồng, để có một số vốn 36.000
đồng. "Hội này lập ra là có ư mua một cái nhà
in để mà in nhựt tŕnh.
"Hội này lập ra là có ư mua một cái
nhà in để mà in nhựt tŕnh, cùng là sách vở và in công
việc cho quan làng, và người mua bán sách nói đủ
việc cơ xảo, bán giá rẻ cho mọi người,
lớn, nhỏ, già, trẻ, nghèo, giàu đều đọc
được. Mỗi cái của Công ty này ở tại
"Quán Lục Tỉnh Tân Văn" số 6,
đường Amiral Krantz Sài G̣n".
Ông Pierre Jeantet làm chánh Tổng
Lư, ông Trần Nhựt Thăng tức là G. Chiếu làm phó
Tổng Lư, ông Nguyễn An Khương làm tư hóa, giữ
bạc. Điều lệ gồm 12 khoản do ba vị nói
trên đứng tên lược soạn và kêu gọi "Ba
tôi cúi xin lục châu đồng tâm hiệp lực mà giúp
sức với chúng tôi đặng cho giáo hóa lê thứ.
Đă được trả nợ nước non mà
lại có lời, ấy là danh lợi lưỡng toàn".
Nhưng dự định không thành v́ không thâu
đủ được phần hùn. Phải chăng
người ở Lục Tỉnh không thấy
được các lợi kinh doanh của nghề in như
người ở Sài G̣n?
Nghề in ở Sài G̣n phát đạt v́ sách báo
in ra, nhất là thơ truyện phổ biến khắp
Lục tỉnh, cuốn "Chuyện đời
xưa" của Trương Vĩnh Kư in đến
lần thứ bốn ngay trong thời ông c̣n sống. T́nh
trạng cạnh tranh giữa các nhà in ngoài cách chính đáng,
chắc hẳn cũng có nhiều cách không chính đáng nên
mới có lời tác giả và nhà xuất bản in trên b́a
nhắc người đọc coi chừng sách giả
nếu không có chữ kư của tác giả. T́nh trạng
lạm dụng nặng đến nỗi nhà in Nguyễn
Văn Viết phải làm một cuộc "phá giá"
về tiểu thuyết như lời rao đăng, trên
Phụ Nữ Tân Văn số 32 tháng 12-1929, tr.21
"Tiểu thuyết bán rẻ mạt". Nhà in và nhà bán
sách của tôi lập ra trót đă 30 năm rồi, trong khi
khắp cả 3 kỳ đồng bào chư quân tử, ai
ai cũng từng biết là một nhà bán đủ hết
các thứ thơ, tuồng, truyện sách rất hay, rất
có giá trị, v́ phần nhiều truyện sách xuất
bản tại nhà in của tôi đây, đều do nơi
tay mấy ông Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắt, và
Nguyễn An Khương v.v... đều là những
người trước thuật có tiếng ở Nam
kỳ này, viết và dịch ra, thiệt rất
được ḷng công chúng hoan nghênh, v́ văn từ
mấy ông ấy rất giản dị, rất thanh nhă, ai
ai cũng đều vui đọc, vui xem".
Nhưng v́ có chuyện lạm dụng,
thương mại hóa như rút ngắn, lại những
đoạn không cần thiết và in thành nhiều tập
mỏng để bán rẻ bán dễ hơn nên ông chủ
nhà in cho in lại bán chỉ lấy tiền in, tiền
giấy thôi. Bộ Tiết Nhơn Quí 2 đồng, chỉ
bán 0đ40...
Những sách biên khảo, giáo khoa vẫn khó
bán, nên thường các soạn giả hay làm đơn xin
Hội Đồng quản hạt Nam kỳ trợ giúp
tiền in hoặc mua một số sách báo cho các
trường học.
Chẳng hạn Trương Vĩnh Kư xin
Hội đồng mua hai tự điển Annam Pháp và
Pháp-Annam (1)
<<(1) Procès Verbaux du Conseil Colonial,
18-12-1893.>>
Hội đồng chỉ nhận mua ít
tự điển Pháp-Annam. Một đơn khác của
Trương Vĩnh Kư đề nghị mua 2.000 "Minh Tâm
bửu giám" Le Pécieux Miroir du Coeur, bị bác v́ không
cần cho các trường, chỉ mua 500 cuốn (1).
Huỳnh Tịnh Của xin trợ cấp mua tự
điển và trả tiền chi phí soạn thảo trong 5
năm là 2.000 quan. Một Ủy duyệt xét được
Hội đồng quản hạt thành lập gồm có:
M.Naville Rossigneux, Therede, Trương Vĩnh Kư. Tất
cả đều nh́n nhận giá trị của công tŕnh biên
soạn nhưng không đồng ư nhau về phương
thức trợ cấp in tại nhà in Rey et Curiol:
<<(1) ???>>
6.400 đ - 1.000 cuốn
8.000đ - 2.000 cuốn
11.500đ - 3.000 cuốn
Chủ tịch Hội đồng chỉ
muốn tặng tác giả một số sách, không muốn
trợ cấp thẳng bằng tiền. Mongeot nói không
thể được v́ sách tặng tác giả không thể
bán được. Rút cục Hội đồng chấp thuận
bỏ tiền in 1.000 cuốn và trợ cấp 1.000
đồng cho tác giả trả công cho những cộng tác
viên. Trong tiểu luận Cao học ngữ học của
Nguyễn Văn Y về "Huỳnh Tịnh Của và công
tŕnh biên soạn bộ Đại Nam Quốc âm tự
vị" (2), có nêu nghi vấn đây là một công tŕnh
của cá nhân ông Của hay của một tập thể.
Ông Y đă dựa vào sự kiện bộ Tự
Điển không nhất trí về một số vấn
đề chính tả, từ ngữ được sử
dụng hoặc định nghĩa không giống nhau trong
suốt cuốn Tự Điển chứng tỏ nhiều
người làm và nhất là chứng từ của một
nhà văn đương thời Nguyễn Kỳ Sắt
viết trong Nam nữ giới chung "Chữ quốc
ngữ" số 1, 28 Mars, 1930, xuất bản tại
Chợ Lớn, tr.5. "Các ông c̣n hậu sanh... Nghe tiếng
Ông Paulus Huỳnh Tịnh Trai (ông Đốc phủ Của)
chớ chưa biết tài ngài năm 1889 Thượng
Thơ đổi lại là Directiondu - Service local, tôi vào làm
việc tại Pḥng thông ngôn, tùng quyền ngài phụ
dịch tờ Gia Định báo với ngài, ngài đây là
hữu danh vô thiệt, một tay tôi với thầy
Huỳnh Mai Liễu cháu ruột ngài làm thông Phán (sau thầy
đổi lên Thủ Dầu Một) làm gần hết
cuốn tự vị quốc ngữ đó. Mạnh tôi tôi
viết, mạnh M.Liễu, M.Liễu viết, chữ c.
cũng được, chữ t. cũng hay, có g. hay là không
g. tự do, ngài trông về tới nhà th́ ngài lập vo,
gọn bân như Triệu Tử Long cầm kích, c̣n việc
học chữ Annam của ngài, th́ nói cho chí lư ngài hơn tôi
chừng vài chục chữ".
<<2. Trường ĐH Văn khoa Saigon,
bản in ???>>
- Biên bản của Hội đồng
quản hạt chấp thuận trợ cấp cho Huỳnh
Tịnh Của cho thấy soạn giả đă
được hai hạng cộng tác viên: một số nhà
nho, một số thông dịch viên tiếng Pháp cung cấp
cho soạn giả những giải thích về giá trị
các từ chứng tỏ cuốn tự vị của
Huỳnh Tịnh Của là một công tŕnh tập thể và
ông chỉ là người đứng tên.
Biên bản Hội đồng quản hạt
ngày 11-10-1909, xét đơn của Nguyễn Liên Phong xin nhà
nước mua 4.000 cuốn Nam Kỳ phong tục nhân
vật diễn ca để bù chi phí ấn loát và để
làm sách dùng trong các trường, không chấp thuận
trợ cấp.
Biên bản hội đồng quản hạt
ngày 25-8-1909, xét đơn của Nguyễn Chánh Sắt,
chủ bút Nông cổ mín đàm, xin nhà nước mua 2.000
cuốn "Cours de Morale" (Huấn tử cách ngôn)
để dạy trong các trường. Hội đồng
nhận xét sách dùng nhiều chữ Nho quá, con nít khó hiểu,
may ra chỉ cha mẹ chúng mới hiểu, ngoài ra sách không
đáp ứng một nhu cầu, thực tế v́ Cours de
morale có khá nhiều rồi nên chỉ chấp thuận mua
600 cuốn, và trợ cấp 300 đồng.
Nhưng thực ra trợ cấp của Chánh
phủ không phải là điều thiết yếu v́
người cầm bút và người in sách thời kỳ
này vẫn chủ yếu sống nhờ vào chính việc làm
của ḿnh. Chúng tôi ít nghe nói đến đời sống
"lầm than" của ngành in xuất bản, viết
văn viết báo, trừ Trương Vĩnh Kư vào cuối
đời (1). Trái lại có những người sống
rất sung túc như Phú Đức, tác giả của
những cuốn truyện bán chạy như "Châu về
hiệp phố" in 5.000 cuốn, 0đ30 một bản,
rồi tái bản. Số lượng sách in, số
lượng sách tái bản cho thấy số lượng
độc giả lúc đó ở khắp miền Nam như
thế nào. Chúng tôi xin trích dẫn vài đoạn chứng
từ của Ngọa Long về đời sống của
nhà văn mà chính Phú Đức cũng đă xác nhận trong
một cuộc phỏng vấn điểm 5 "Nghề
viết văn viết báo giúp tôi đời sống
đầy đủ vật chất lẫn tinh
thần" (Trích báo Đuốc Nhà Nam ngày 19-4-1970) (2).
<<(1) Nhật kư chép tay ghi ngày 7-3-1892.
"Số th́ vậy (đoạn trước có nói một
thầy coi tướng cho ông) mà chưa thấy chi là thong
thả. Việc nợ nần nương náu c̣n mê mê, tính
phương này thế kia cũng chẳng ra chi, cứ
bứt râu ông nọ giắt cầm mụ kia" (Hồ
sơ P.Kư lưu trữ ở Thư viện KHXH miền Nam
(Viện khảo cổ cũ).>>
Ngay từ đầu năm 1925 với huê
lợi của bản quyền "Cái nhà bí mật" bán
cho một nhà xuất bản và huê lợi của "Châu
về hiệp phố" trên tờ Trung Lập không
kể đồng lương giáo học và huê lợi riêng
v́ Phú Đức là con nhà giàu, người ta đă thấy
nhà văn Phú Đức bỏ xe mô tô và bắt đầu
lái "x́ gà".
Nói "x́ gà" tức là một loại xe
hơi cỡ nhỏ, hai chỗ ngồi loại xe thể
thao hay xe đua, có đầu nhọn đít dài như
điếu "x́gà" mà nhân vật Hoàng Ngọc Ẩn và
Hiệp Liệt trong CVHP đă dùng làm say mê tánh hiếu
kỳ của bạn đọc. Ở đây chỉ chính
tác giả Phú Đức đă thực hiện. Ông cũng
sắm được một chiếc "x́ gà" y
như vậy và để chiều chiều cho lạng
một ṿng Catinat qua chợ Sài G̣n trước khi về Gia
Định, cho thiên hạ coi chơi.
Bạn đọc tiểu thuyết "Châu
về hiệp phố" hồi đó cũng đă quen
gọi chiếc xe thể thao hiệu "Amibka" của
Phú Đức là điếu "x́ gà". Hiệp Liệt
và người lái xe ngồi trên xe đó là... Hoàng Ngọc
Ẩn chớ c̣n ai.
V́ chỉ có việc vừa chép vừa sửa
lại một vài "bổn củ" để
đưa đăng lên một vài tờ báo, với
một giá phải chăng, mỗi tờ mỗi tháng
trả cho ông vài ba ngàn, tính ra mỗi tháng ông kiếm
được trên 10 ngàn, sánh với đồng
lương của một Tổng Thư kư Ṭa soạn
hồi này không quá mức 2.000 - Quả ông Phú Đức là
một kư giả, đúng hơn là một nhà văn
"đẻ bọc điều". Cũng v́ vậy mà
trong khoảng thời gian này, ông Phú Đức c̣n
được làng báo tặng thêm cho cái bổn danh là
tiểu thuyết gia bổn củ soạn lại. Tuy toàn
là bổn củ soạn
Thế là ấn quán địa phận ở
Tân Định đă có từ năm 1874 tới nay 1945 là 71
năm chẵn và người sáng lập chính là Cố
Sơn (R.P.Eveillard).
Trong một vuông đất rộng lớn,
Cha Sơn đă tạo lập nào nhà thờ họ, nhà in,
nhà nguyện, kho sách, nhà ngũ học tṛ, nhà cơm, nhà bếp,
nhà chơi, nhà lầu cha ở v.v... Thật là một công
tŕnh vĩ đại đầy lao khổ Cha đă
để lại cho địa phận bên b́ đến
rày, đă trải bảy mươi đời cha Giám
đốc, tiếp tay nhau mà coi sóc mở mang thêm, in
được nhiều thứ sách vở, làm ích biết
bao nhiêu cho địa phận này và các nơi khác trong
việc truyền giáo.
Ban đầu Cha Sơn chỉ sắm có hai
cái máy in nhỏ, thứ máy ép cho nên hồi trước in
sách vở phải khó khăn phiền phức lắm,
giấy phải thấm nước trước phơi cho
ráo ḿnh, đoạn lăn mực trên khuôn mà ép, hết
tờ này đến tờ khác rồi mặt này mới
đổi khuôn trở thành mặt kia.
Đến sau cha sắm thêm được
một máy in lớn quay tay th́ lúc ấy chưa có hơi
điện.
Nhơn công làm việc trong nhà in th́ tiện
chính cha dùng các thầy ḍng Thánh Phanxicô và những trẻ
mồ côi ở trong nhà in mà làm việc, ở ăn theo
luật ḍng tu.
Đến sau tuy đă tan ḍng Phanxicô, song các
trẻ mồ côi nhà in vẫn c̣n giữ những khuôn phép
bề ngoài tương tự như trước là: có
giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, giờ
đọc kinh, xem lễ, viếng ḿnh Thánh Chúa và tập hát
xướng v.v... mỗi lần bắt đầu làm
việc và khi băi việc đều có đọc kinh theo
luật nhà. Mỗi tuần có Cha hay thầy dắt đi
dạo hai lần: thứ tư và chúa nhựt.
Tại nhà in, có một Cha phó và một
thầy giảng giúp cha Giám đốc coi sóc học tṛ,
mỗi năm Cha Giám đốc cũng mời một cha
khác đến giảng cấm pḥng cho học tṛ.
Nhà in nuôi những trẻ mồ côi (gọi là
học tṛ) tập rèn cho chúng biết phương thế
làm ăn, nên nghề nghiệp, nhứt là cốt đào
tạo cho chúng nên người giáo hữu tốt, chừng
lớn khôn th́ cha Giám đốc lo đôi bạn cho,
đứa nào muốn ở lại làm việc tại nhà in
th́ cũng có tiền lương, bằng muốn kiếm
sở khác th́ tự ư.
Ngày 15 Septembre 1883, Cha Sơn qua đời,
mọi việc nhà in giao lại cho cố Thượng
(R.B.Génibrel) thay thế, v́ Đức Cha đă sai Cha
Thượng khi ấy ở Phú Hiệp về nhà In Tân
Định trước mấy tháng để giúp
đỡ Cố Sơn trong lúc bịnh hoạn già yếu.
Trong họ làm lễ an táng Cố Sơn
rất long trọng và xác người an táng trước bàn
thờ ông Thánh Giuse tại nhà thờ Tân Định là chính
nhà thờ ngài đă xây dựng, về sau Đức Cha
G.B.Ṭng đă xây tháp làm mặt tiền lại, nới
rộng hàng ba và trao đổi lại cho ra nguy nga lịch
sự. Cha Sơn qua đời đến nay
được 62 năm chẵn, mà những di tích ngài để
lại c̣n vẹn vẻ oai nghi, thật là một công tŕnh
bất hủ.
Năm sau, Đức Cha Mỹ (Mgr.Colombert)
cử Cố Thượng (Génibrel) làm chính Giám đốc
nhà in địa phận thế cho Cố Sơn qua
đời. Cha Thượng lên làm Chánh Giám đốc, ngài
cũng cứ nối chí của Cha cựu làm cho nhà in càng
ngày mở mang bành trướng thêm. Trong ṿng 30 năm
trời (1884 - 1914) ngài rất tận tụy với
nghề nghiệp, sắm thêm máy in lớn nhỏ, mua
nhiều thứ chữ, Ngài đă hiệp với cha già Tôma
Đoan mà dọn một quyển tự vị lớn
rất quí hóa cho đời ấy là quyền "Grand
Dictionnaine Annamite Francais a vec caractères chinois" xuất
bản lần thứ nhất - năm 1894 và một
quyển tự vị nhỏ "Petit Dictionnaire Annamite -
Francais" mà hiện thời vẫn c̣n thông dụng.
Cha Thượng làm Giám đốc nhà in cho
đến năm 1902 là năm Cha Đức (R.Moreau)
đổi đi, th́ Đức Cha Măo (Mrg.Mossard) lại
cử người - kiêm luôn làm Bổn sở họ Tân
Định nữa. (Năm 1911, Cha Du (R.G.Guillon)
dưỡng bệnh bên Pháp trở qua, th́ Đức Cha sai
đến Tân Định giúp cha Thượng coi sóc nhà in,
và khi ấy cha Matthêu Đức sắp sửa đ̣i đi
coi họ Thạnh Thông Tây.
Cuối tháng Mai năm 1914, Cha Thượng qua
đời tại Tân Định. Biết bao nhiêu
người mến thương tiếc ngài, tài đức
và lương nhơn từ, ḷng quảng đại
của Cha. Nhà Chung và trong họ lo cuộc tỗng táng cha
cách xứng đáng (Đến năm 1943 các quan địa
phương Sài G̣n - Chợ Lớn xét thấy công khó
của Cha dọn mấy quyển tự vị th́ có
đặt tên Ngài cho một con đường ở xóm Tân
Định để tỏ sự ngưỡng mộ
một người tài đức làm ích cho học
giới).
Qua tháng Juin năm ấy Đức Cha cử
Cha Du làm cha sở Tân Định và đổi cha Ṛng
(R.G.Masseron) ngoài Phan Thiết về làm Giám đốc nhà in.
Cha Ṛng về coi nhà in th́ ngài xin lănh bài sanh ư (patente)
- theo luật thương mại, để lănh thêm
đồ in ngoài cách chánh thức, v́ từ trước nhà
in Tân Định chỉ in sách vở về phần
đạo mà thôi. Đến năm 1914 cha Ṛng về
mới lănh đồ ngoài làm mới kịp, vả lại
cha là một đấng linh mục rất thông thạo
trong nghề và hoạt động lắm.
Cha Ṛng đă hiệp tác với thầy giáo là
em cha Matthêu Đức, mà dọn quyển tự vị
"Nouveau Dictionnaire Francais Annamite" rất thiết
dụng cho người ta, quyển tự vị ấy cha
Thượng đă bắt đầu dọn nhưng v́ già
yếu bệnh hoạn phải bỏ dở.
Khi Cha Ṛng phải đổi về Pháp coi
việc nhà Hội giảng đạo tại Marseille th́
tháng Mars 1918 Cha Du Bổn sở họ Tân Định qua làm
Giám đốc nhà in cho tới Mars 1919, ngài qua đời và
Cha Matthêu Đức, Hạnh Thông Tây về Nhà in thế
đỡ.
Đức Cha cử Cha Gabirie Long, bổn
sở Đất đỏ về làm Giám đốc Nhà in
thế vị Cha Du.
Từ cuối Mars 1919, Cha Gabirie Long nối
tiếp công việc coi sóc nhà in cho đến 14 Octobre 1926,
Đức Thầy Jaidôrô Đượm đổi ngài ra
làm chánh sở họ Baria thế cha GB.Ṭng về làm bổn
sở họ Tân Định.
Trong ṿng 8 năm làm Giám đốc nhà in, Cha
Long đă tận t́nh nhiệm vụ hết ḷng
thương yêu học tṛ nhà in, ngài c̣n xuất tiền riêng
ra lập một ban nhạc Tây (Crchestre) mua sắm
đờn, quyên kèn trống bên Tây, mướn thầy
dậy tập cho học tṛ thành thuộc, giúp đánh
thổi khi có lễ trọng ở nhà thờ, hoặc hôm
nào có cuộc lễ như: Vinh qui, lễ vàng, lễ
bạc, hôn phối, ... ai muốn rước nhạc nhà in
cũng được. Cha Long đă tác thành cho nhiều học
tṛ nhà in thạo nghề, sau ra làm kế sinh nhai
đặng.
Vả chăng cha Long là cựu thầy
đờn nhạc ở trường Latinh, nên ngài rất
thạo và hạp nghề này. Năm 1923, Cha G.B.Ṭng diễn
tuồng Thương khó tại Tân Định, th́ cũng
nhờ bọn nhạc này giúp.
Khi Cha Long đổi đi Baria th́ đức
Cha Phao Lô Đoàn Quang Đạt, bổn sở Bố mia
về coi nhà in Tân Định dưới quyền G.B.Ṭng.
Đời Cha Phaolô Đạt coi nhà in, th́
không c̣n nuôi trẻ ăn và ở luôn như trước
nữa, mỗi đứa làm việc Cha phải phát
lương cho mà ăn sắm mặc lấy: những
lề luật phải giữ bề ngoài như xưa
cũng băi hết. Sáng ngày bắt đầu 7 giờ 30 vô
làm việc cho đến 11 giờ trưa, chiều 2 giờ
30 đến 5 giờ nghỉ.
Trong ṿng 7 năm coi ấn quán, Cha Phaolô
Đạt đă sắm thêm được 3 cái máy in
lớn kim thời chạy điện (một cái
Marinomi-Voirin và 2 cái Capdevielle) rất tiện lợi mau chóng.
Đức Cha Jaidôrô Đượm (Mrg.dumortier) đă thân
hành làm phép 3 cái máy ấy. Cha Phaolô Đạt cũng mua
một máy cắt lớn chạy bằng điện
hiện nay c̣n dùng.
Tháng Novembre 1933, đức Cha Jsidôrô chọn
cha Long về làm bổn sở họ Tân Định và cha
Phaolô Đạt đi nhận chánh sở Baria thế cho cha
Long, th́ đức cha cử Cha Giacôbê Huỳnh Công Quận
chủ nhiệm báo Nam Kỳ địa phận kiêm luôn
chánh giám đốc nhà in cho đến khi ngài qua
đời. Ngày 5 Avril 1943, hưởng thọ 78 tuổi làm
việc tông đồ 47 năm.
Trong ṿng 10 năm coi sóc Nhà in tuy tuổi già
sức yếu lại thêm gặp lúc khủng hoảng
chiến tranh, vật liệu mắc mỏ, ấn quán và
thiện báo không được thạnh phát ǵ, nhưng cha
già cũng qui cóp - đặng số tiền mà cho hy
vọng độc nhất của ngài là muốn xây
dựng nhà in lại, v́ nhà in đời Cố Sơn sáng
lập từ năm 1847 đến nay đă cũ kỹ
lắm. Song rất tiếc cha cha Quận, ư nguyện
chưa đặng thành đạt, mà sự chết
chẳng chờ đợi ngài.
Vậy từ Arvil 1945 đến nay, th́ Cha
Phaolô Vàng đảm nhận ấn quán và báo Nam Kỳ
địa phận.
CÁC CHA GIÁM ĐỐC NHÀ IN ĐỊA PHẬN
Ở TÂN ĐỊNH TỪ KHI SÁNG LẬP ĐẾN BÂY
GIỜ.
1 - Cha Eveillard sáng lập từ 1874 đến
1883: 9 năm
2 - Cha
Génibrel 1884 - 1914: 30 năm
3 - Cha
Masseroy 1914 - 1918: 4 năm
4 - Cha
Guillow 1918 - 1919: một năm
5 - Cha
Gabirie Long 1919 - 1926: 8 năm
6 - Cha
Phaolô Đạt 1926 - 1933: 6 năm
7 - Cha
Giacôbê Quận 1933 - 1943: 10 năm
8 - Cha Phaolô
Vàng 1943 - 19
(TRÍCH TÀI
LIỆU DO HỌ ĐẠO TÂN ĐỊNH CUNG CẤP)
© Copyright
Nguyễn Văn Trung 1980, 2005
----------------------